CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG 1. Cơ sở lí luận chung về động lực làm việc của người lao động 1. Khái niệm về động lực làm việc Động lực làm việc của người lao động là một khái niệm rất khó có thể nắm bắt và định nghĩa một cách chính xác được. Động lực làm việc là một đề tài xuất hiện nhiều trong các cuộc nghiên cứu về hành vi của người lao động trong tổ chức, mỗi nghiên cứu đều có những quan niệm về động lực làm việc theo góc độ riêng của các tác giả, có thể kể ra một số quan niệm như sau: Theo Higgins (1994) động lực là lực đẩy từ nhu cầu bên trong cá nhân để đáp ứng nhu cầu chưa thỏa mãn.
Động lực là sự khao khát và tự nguyện của cá nhân để tăng cường sự nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt được các mục tiêu của tổ chức. Pinder (1998) cho rằng động lực làm việc là một tập hợp của các yếu tố bên ngoài và bên trong dẫn tới các hành vi liên quan đến việc thiết lập, định hướng hình thức, thời gian và cường độ của hành động. Định nghĩa này xác định ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài (ví dụ, tính chất công việc, hệ thống khen thưởng của tổ chức) và các yếu tố bẩm sinh của một cá nhân (ví dụ, động cơ và nhu cầu của một người) đến các hành vi liên quan đến làm việc. Carr (2005) mô tả động lực làm việc là một sự thúc đẩy từ bên trong, dựa trên nền tảng là các nhu cầu cơ bản một cách có ý thức và vô thức của một cá nhân mà chính điều đó dẫn dắt cá nhân làm việc để đạt được mục tiêu.
Động lực thể hiện mong muốn làm tốt công việc của cá nhân nhằm thỏa mãn chính mình. Cá nhân có động lực làm việc khi họ tìm kiếm niềm vui, mối quan tâm, thỏa mãn trí tò mò, tự thể hiện và muốn có thử thách trong công việc (Amabile, 1993) Theo Wright, (2003) động lực lao động được đo lường bởi: sự cố gắng hết sức để hoàn thành công việc dù gặp các khó khăn, sẵn sàng bắt đầu ngày làm việc sớm hoặc ở lại muộn để hoàn thành công việc, thường làm việc chăm chỉ hơn người khác có cùng công việc, làm việc quên thời gian. Như vậy, dựa trên các nghiên cứu của các tác giả về động lực lao động thì khái niệm động lực lao động bao gồm những khía cạnh sau: (1) Động lực lao động là sự tự nguyện, khát khao làm việc; (2) Động lực lao động là một quá trình tâm lý; (3) Động 7 lực là sự cố gắng để đạt được mục tiêu. Do đó, có thể hiểu động lực lao động là sự tự nguyện, khát khao, cố gắng làm việc mà công việc đó giúp người lao động đạt được mục tiêu cá nhân trong sự phù hợp với mục tiêu của tổ chức.
Vì vậy, tổ chức cần phải tìm ra những yếu tố tạo động lực, kích thích nhân viên nhằm làm thỏa mãn nhân viên để khuyến khích họ thực hiện công việc tốt nhất, giúp tổ chức duy trì và đạt mục tiêu dài hạn. Khái niệm về tạo động lực TS. Bùi Anh Tuấn, (2013) cho rằng vấn đề tạo động lực lao động cho nhân lực nói chung và cho người lao động trong tổ chức nói riêng đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Có thể hiểu rằng tạo động lực lao động chính là việc các nhà quản trị vận dụng một hệ thống các chính sách, biện pháp cách thức quản lý tác động tới người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong công việc, thúc đẩy họ hài lòng hơn với công việc và mong muốn được đóng góp cho tổ chức, doanh nghiệp.
Động lực lao động mang tính tự nguyện phụ thuộc chính vào bản thân người lao động, người lao động thường chủ động làm việc hăng say khi họ không cảm thấy có một sức ép hay áp lực nào trong công việc, khi được làm việc một cách chủ động tự nguyện thì họ có thể đạt được năng suất lao động tốt nhất. Tạo động lực làm việc cho người lao động sẽ khiến cho người lao động dồn hết khả năng của họ để thực hiện công việc được giao, đạt mục tiêu của doanh nghiệp, đáp ứng làm thỏa mãn nhu cầu, gia tăng sự thỏa mãn công việc của người lao động và độ gắn kết của người lao động với doanh nghiệp. Vai trò của động lực làm việc Theo bài giảng của PGS.TS Trần Xuân Cầu, (2012) thì việc tạo động lực mang lại lợi ích cho người lao động, cho doanh nghiệp và cho xã hội như sau: Đối với người lao động: - Làm tăng năng suất lao động cá nhân: Khi người lao động có động lực làm việc thì họ sẽ làm việc một cách nhiệt tình và hăng say, từ đó có thể phát huy hết khả năng tiềm ẩn của họ, kết quả là năng suất lao động cá nhân được nâng cao rõ rệt. Khi năng suất tăng lên dẫn tới tiền lương cũng được nâng cao hơn trước và do đó giúp nâng cao thu nhập cho người lao động.
8 - Phát huy được tính sáng tạo: Tính sáng tạo thường được phát huy khi con người cảm thấy thoải mái, tự nguyện khi thực hiện một công việc nào đó. - Ngoài ra, khi có động lực làm việc thì công việc sẽ được tiến hành thuận lợi, họ sẽ thấy công sức của mình bỏ ra là có ích và đạt được hiệu quả cao. Điều đó tạo cho họ cảm thấy có ý nghĩa trong công việc, cảm thấy mình quan trọng và có ích từ đó không ngừng hoàn thiện bản thân mình hơn nữa. Đối với tổ chức: Động lực làm việc của nhân viên là nhân tố then chốt đối với sự tồn tại của tổ chức trong điều kiện các yếu tố của môi trường kinh doanh thay đổi không ngừng, có thể thấy được tác động của động lực làm việc đối với tổ chức như sau: - Động lực làm việc giúp giảm thiểu các tác động tiêu cực nảy sinh trong hoạt động của tổ chức.
Khi nhân viên có động lực làm việc thì tai nạn nghề nghiệp ít xảy ra hơn, các vấn đề vi phạm đạo đức, bỏ việc hay tỷ lệ vi phạm kỷ luật cũng ít hơn (Carole&Robert, 2004). Việc tạo động lực cho nhân viên nhờ vậy giúp tổ chức tiết kiệm chi phí cho khắc phục những rủi ro xảy ra trong quá trình hoạt động, gia tăng sự gắn kết của nhân viên và từ đó tạo điều kiện để hoàn thành các mục tiêu dài hạn của tổ chức. - Động lực làm việc giúp gia tăng sự thỏa mãn trong công việc cũng như sự gắn kết của nhân viên đối với tổ chức (Bateman&Snell, 2007), nhờ đó nguồn nhân lực của tổ chức sẽ được ổn định. Điều này không những tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện các mục tiêu dài hạn của tổ chức, mà còn góp phần nâng cao hình ảnh của tổ chức trên thị trường lao động.
- Động lực làm việc không chỉ giúp người lao động kết hợp với nhau tốt hơn trong công việc mà còn tăng cường sự gắn bó về mặt tinh thần trong một tập thể, cùng chung sức vì mục tiêu chung. Nếu không có động lực làm việc, người lao động sẽ làm việc theo hình thức đối phó, ảnh hưởng đến không khí làm việc chung của tổ chức, hiệu quả công việc từ đó sẽ bị giảm sút. Đối với xã hội: - Động lực lao động giúp các cá nhân có thể thực hiện được mục tiêu, mục đích của mình, đời sống tinh thần của mỗi người sẽ trở nên phong phú hơn, từ đó hình thành nên những giá trị mới cho xã hội. - Các thành viên của xã hội được phát triển toàn diện và có cuộc sống hạnh phúc hơn khi các nhu cầu của họ được thoả mãn.
9 - Động lực lao động gián tiếp xây dựng xã hội ngày càng phồn vinh hơn dựa trên sự phát triển của các doanh nghiệp. Các phương pháp tạo động lực làm việc Theo giáo trình quản trị nhân lực của ThS. Nguyễn Vân Điềm – PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân, việc tạo động lực làm việc cho người lao động có các phương pháp sau: 1. Xây dựng mục tiêu và nhiệm vụ cho người lao động Để phát huy sức mạnh tập thể và tinh thần làm việc hăng say của người lao động, nhà quản lí nên xây dựng mục tiêu và nhiệm vụ cho đội ngũ nhân viên.
Đó chính là việc đưa ra mục tiêu mà công ty cần vượt qua, chẳng hạn như tăng doanh số so với năm ngoái, vượt qua thị phần của đối thủ cạnh tranh,… Những nhiệm vụ cần phải thực hiện đó là: - Xác định rõ mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp, phổ biến các mục tiêu đến từng lao động và làm cho người lao động hiểu rõ mục tiêu đó. - Xác định tiêu chuẩn thực hiện công việc cho người lao động, giao quyền và trách nhiệm cho nhân viên. Rủi ro do những quyết định của nhân viên được giao quyền sẽ rất nhỏ nếu chúng ta có một chương trình huấn luyện tốt. - Đánh giá thường xuyên mức độ hoàn thành nhiệm vụ của người lao động qua đó giúp người lao động điều chỉnh những hành vi của mình cho phù hợp với yêu cầu của tổ chức.
Phân công, bố trí lao động một cách hợp lí Nhiệm vụ của nhà quản lí là phải tạo điều kiện thuận lợi trong công việc giúp cho nhân viên thấy rằng công việc mà họ đang đảm nhiệm phù hợp với chuyên môn, kĩ năng của họ và có thể giúp họ phát triển nghề nghiệp trong tương lai. Bên cạnh đó, phải làm cho nhân viên thấy rằng họ là một phần tử quan trọng của công ty. Nhà quản lí nên lôi kéo sự tham gia của tất cả mọi nhân viên vào trong những quyết định quan trọng của tổ chức. Khi đó họ sẽ cảm nhận được giá trị của họ và ngày càng làm việc nhiệt huyết hơn.
Các bước thực hiện đó là: - Phân công bố trí lao động một cách hợp lí, đảm bảo đúng người đúng việc, tránh tình trạng làm trái ngành nghề gây khó khăn trong công việc cho người lao động. - Cung cấp đầy đủ các điều kiện cần thiết phục vụ cho công việc. - Loại trừ các trở ngại trong khi thực hiện công việc của từng người lao động. Kích thích bằng vật chất cho người lao động Tạo động lực thông qua tiền lương: Tiền lương là một khoản tiền mà người lao động nhận được từ người sử dụng lao động sau khi đã hoàn thành những công việc nhất định.
Tiền lương là công cụ đắc lực, là động cơ thúc đẩy con người làm việc.