CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC 1.1 Khái niệm và vai trò của quản trị nguồn nhân lực 1.1 Nguồn nhân lực Theo nghĩa rộng, nhân lực được hiểu như nguồn lực con người. Còn theo nghĩa hẹp, nhân lực là dân số trong độ tuổi có khả năng lao động (Lê Văn Tâm, 2008; Ngô Kim Thanh, 2008). Theo Phạm Minh Hạc (2001), nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hoặc một địa phương, tức nguồn lao động được chuẩn bị sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó. Lê Hữu Tầng (1991-1995) định nghĩa nguồn nhân lực là số dân và chất lượng của con người, bao gồm cả thể chất lẫn tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực phẩm chất, thái độ và phong cách làm việc.
Nguồn nhân lực là nguồn lực con người của những tổ chức tiềm năng và khả năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc thế giới (Nicolas Herry, 2015). Nguồn nhân lực là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cư, có khả năng tham gia vào quá trình tạo ra của cái vật chất và tinh thần cho xã hội. Sức mạnh và khả năng đó được thể hiện qua số lượng và chất lượng con người có đủ điều kiện tham gia vào sản xuất (Trần Xuân Cầu, 2008; Mai Quốc Chánh, 2008). Tổng hợp lại các quan điểm trên, Nguồn nhân lực được xem là yếu tố cốt lõi, quyết định mọi sự thành công của doanh nghiệp.
Có được đội ngũ nhân sự năng động, sáng tạo và chất lượng giúp tổ chức đứng vững trên thị trường cạnh tranh hiện nay. Như vậy, bên cạnh các loại nguồn lực vật chất (vốn tiền tệ, kỹ thuật công nghệ và tài nguyên thiên nhiên) thì nguồn lực con người là không thể thiếu trong bất cứ doanh 5 nghiệp nào. Việc quản trị nguồn nhân lực được coi là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của các nhà quản trị doanh nghiệp.2 Quản trị nguồn nhân lực Theo Mathis & Jackson (2008), quản trị nguồn nhân lực là việc thiết kế các hệ thống chính thức trong một tổ chức để đảm bảo hiệu quả và hiệu quả sử dụng tài năng của con người để thực hiện các mục tiêu của tổ chức. Theo Trần Kim Dung (2018), quản trị nguồn nhân lực là việc tạo ra và thực hiện hệ thống các hoạt động chức năng, triết lý và các chính sách về thu hút lao động, đào tạo – phát triển, duy trì con người của một tổ chức, để đạt được kết quả tối ưu cho nhân viên và cả tổ chức.
Ivancevich (2010) lại cho rằng quản trị nguồn nhân lực là nghiên cứu những việc nên thực hiện hay có thể thực hiện như thế nào để mang lại cho những người lao động cảm thấy hài lòng với công việc và làm việc có năng suất cao hơn. Theo Bùi Văn Danh (2019), quản trị nguồn nhân lực là sự phối hợp một cách tổng thể các hoạt động hoạch định, tuyển mộ, tuyển chọn, duy trì, phát triển, động viên và tạo điều kiện thuận lợi cho tài nguyên nhân sự thông qua tổ chức, nhằm đạt được mục tiêu chiến lược và định hướng viễn cảnh của tổ chức. Đây là khái niệm được tác giả sử dụng trong luận văn.3 Vai trò của quản trị nguồn nhân lực Trong hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp, công tác quản trị NNL đóng vai trò trung tâm để điều hành mọi hoạt động của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp đi lên trong cạnh tranh và phát triển. vai trò này xuất phát từ chính vai trò của con người là yếu tố cấu thành doanh nghiệp, con người vận hành và mang tính quyết định sự thắng lợi hay thất bại của doanhn nghiệp (Bùi Văn Danh, 2019) Quản trị nguồn nhân lực thể hiện vai trò trên ba khía cạnh: vai trò chiến lược; vai trò hành chính; vai trò tác nghiệp (Mathis & Jackson, 2008) 6 Vai trò quản trị hành chính của quản trị nguồn nhân lực: Các thủ tục qui trình về lưu trữ hồ sơ, bao gồm các cơ sở dữ liệu về nguồn nhân lực và duy trì hồ sơ nhân viên, Các văn bản về chính sách hỗ trợ, chính sách bảo hiểm, nghỉ ốm, nghỉ phép, các công văn đi, công văn đến liên quan đến nhân sự với các tổ chức ban nghành liên quan (Sở Lao động, Phòng Lao động, Liên đoàn lao động …), các hồ sơ xử lý các khiếu nại về lương và phúc lợi.
trong một số tổ chức, chức năng quản trị hành chính được thuê ngoài hoặc sử dụng công nghệ để tự động hóa nhiều hoạt động. Trong quản trị NNL có vai trò tác nghiệp được thể hiện trong các quá trình vận hành mang tính chất tác nghiệp như các văn bản pháp luật nhà nước qui định liên quan tới lao động, xử lý các đơn ứng tuyển việc làm, phỏng vấn ứng viên để tuyển vào các vị trí chức danh còn thiếu, các chuyên viên phải được huấn luyện và đào tạo, qui trình giải quyết về vấn đề an toàn và quản trị các chính sách về lương thưởng và phúc lợi. Quản trị NNL có vai trò chiến lược bởi vì, Tổ chức có được lợi thế cạnh tranh trong và ngoài nước là do sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực, con người trong một tổ chức là nguồn lực mang lại giá trị thể hiện được sự đầu tư có ý nghĩa của chính bản thân tổ chức, đặc biệt là đầu tư mang tính chất dài hạn, sự luôn thay đổi của các yếu tố nhân khẩu học cho nên cần xem trọng sự thiếu hụt lực lượng lao động tác động đến tổ chức như thế nào, hay cần giải pháp nào để giải quyết sự thiếu hụt đó.4 Mục tiêu của quản trị nguồn nhân lực Mục tiêu về xã hội: Doanh nghiệp vận hành trước các thách thức và phải đáp ứng các nhu cầu của xã hội. Mục tiêu của tổ chức: Quản trị nguồn nhân lực cung cấp nhân sự để từng bộ phận thực hiện được mục tiêu, nhiệm vụ riêng, phù hợp với mục tiêu chung của toàn bộ tổ chức.
Đồng thời xây dựng cơ cấu, tổ chức nhân sự tương ứng với cơ cấu hoạt động chung của tổ chức. 7 Mục tiêu chức năng nhiệm vụ: Mỗi bộ phận trong tổ chức sẽ có chức năng và nhiệm vụ riêng, mục tiêu của quản trị nguồn nhân lực trợ là giúp cho các bộ phận này thực hiện và hoàn thành được chức năng, nhiệm của mình trong tổ chức. Mục tiêu cá nhân: Đây là mục tiêu quan trọng hàng đầu của quản trị nguồn nhân lực vì nó đáp ứng được mục tiêu cá nhân của người lao động, từ đó động viên khích lệ sự nỗ lực của họ, nhằm giúp họ hoàn thành công việc một cách hiệu quả nhất, đóng góp vào thành công của tổ chức.2 Chức năng của quản trị nguồn nhân lực Theo Bùi Văn Danh (2019) thì các nhóm hoạt động chính của quản trị NNL gồm ba chức năng chủ yếu là thu hút, đào tạo và phát triển, duy trì nguồn nhân lực. Mỗi nhóm có vai trò riêng và bao gồm các hoạt động khác nhau.
Tuy nhiên chúng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau và các nhà quản trị nguồn nhân lực cần quan tâm và triển khai đồng bộ các hoạt động của ba nhóm chức năng. Nếu bỏ qua hoặc ít quan tâm một vài hoạt động hay một nhóm chức năng thì các hoạt động khác có thể trở thành vô hiệu và hiệu quả của công tác quản trị NNL sẽ có thể sẽ bị triệt tiêu. Theo Trần Kim Dung (2018), cho rằng nếu chia theo chu kỳ dòng nhân lực thì có ba nhóm chức năng là Thu hút – đào tạo và phát triển – duy trì nguồn nhân lực. Nếu chức năng chia theo vai trò và mức độ tác động đến hoạt động của tổ chức thì chia làm 4 nhóm trong đó có tác nghiệp hay chiến lược và quá trình hay con người.
cách chia này phù hợp với xu hướng hiện đại. Các doanh nghiệp cần chuẩn hóa những qui trình quan trọng, đảm bảo tính hợp lý, nhất quán trong thực hiện, đồng thời phải quan tâm đến yếu tố con người.1 Chức năng thu hút nguồn nhân lực Nhóm chức năng này chú trọng vấn đề đảm bảo đủ số lượng nhân viên với các phẩm chất phù hợp với các vị trí chức danh trong doanh nghiệp. Chức năng này gồm các hoạt động như dự báo và lập kế hoạch nguồn nhân lực, mô tả các yêu cầu của công việc, quảng cáo, đưa ra các tiêu chuẩn tuyển chọn, phỏng vấn, trắc nghiệm và chọn ứng viên phù hợp cho công việc. 8 Căn cứ vào kế hoạch sản xuất, kinh doanh và thực trạng sử dụng nhân viên trong doanh nghiệp để xác định công việc nào cần tuyển thêm người lúc đó doanh nghiệp sẽ tuyển được đúng nghười và giao đúng việc.2 Chức năng đào tạo và phát triển nguồn nhân lực Chức năng đào tạo và phát triển chú trọng nâng cao năng lực cá nhân, đảm bảo nhân viên trong tổ chức có đủ kỹ năng, trình độ lành nghề để hoàn thành công việc được giao và tạo điều kiện cho nhân viên phát triển tối đa những năng lực cá nhân.
Doanh nghiệp tổ chức các chương trình đào tạo cho nhân viên mới để xác định năng lực thực tế của nhân viên giúp nhân viên làm quen với công việc của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp lập kế hoạch đào tạo, huấn luyện và đào tạo lại cho nhân viên mỗi khi có sự thay đổi về nhu cầu sản xuất kinh doanh.3 Chức năng duy trì nguồn nhân lực Nhóm chức năng này bao gồm các hoạt động quản trị và đánh giá thành tích, thiết lập hệ thống lương thưởng và xây dựng các mối quan hệ công việc hợp tác, an toàn. Chức năng duy trì nguồn nhân lực bao gồm hai chức năng nhỏ hơn là kích thích động viên và duy trì, phát triển các mối quan hệ lao động tốt đẹp trong doanh nghiệp.3 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực Theo Trần Kim Dung (2018), “kiểm soát quản trị nguồn nhân lực là quá trình phân tích và đánh giá một cách hệ thống, tổng thể các chiến lược, chính sách, chương trình, hoạt động chức năng quản trị nhân lực theo đúng mục tiêu chiến lược và các nguyên tắc, qui định của tổ chức và yêu cầu của luật pháp”. Đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực giúp cho doanh nghiệp đưa ra quyết định sử dụng lao động hợp lý để mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất cho doanh nghiệp.