chương 1 cũng nêu tổng quát nội dung kết cấu của đề tài để người đọc có thể nắm được khái quái nội dung trong đề tài nghiên cứu. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Cở sở lý thuyết về vấn đề nghiên cứu. Tổng quan về Logistics 2.
Khái niệm về Logistics. Có rất nhiều khái niệm khác nhau về Logistics trên thế giới được xây dựng căn cứ trên ngành nghề và mục đích nghiên cứu về dịch vụ Logistics. Tuy nhiên, có thể nêu một số khái niệm chủ yếu sau: Theo ngành nghề và mục đích nghiên cứu về dịch vụ logistic, có rất nhiều quan điểm về dịch vụ trên toàn cầu. Mặt khác, một số khái niệm chính có thể được liệt kê như sau: Theo Liên Hợp Quốc: Logistics là hoạt động quản lý quá trình lưu chuyển nguyên vật liệu qua các khâu lưu kho, sản xuất ra sản phẩm cho tới tay người tiêu dùng theo yêu cầu của khách hàng.
Theo Ủy ban Quản lý Logistics của Hoa Kỳ: Logistics là quá trình lập kế hoạch, chọn phương án tối ưu để thực hiện quản lý, kiểm soát việc di chuyển, bảo quản để có hiệu quả về chi phí và ngắn nhất về thời gian đối với nguyên vật liệu, bán thành phẩm và thành phẩm, cũng như các thông tin tương ứng từ giai đoạn tiền sản xuất cho đến khi hàng hóa đến tay người tiêu dùng cuối cùng nhằm đáp ứng yêu cầu của khách hàng. Theo Hội đồng quản trị Logistics Hoa Kỳ - 1988 (CLM - Council of Logistic Management): Logistics là quá trình lên kế hoạch, thực hiện và kiểm soát hiệu quả, tiết kiệm chi phí của dòng lưu chuyển và lưu trữ nguyên vật liệu, hàng tồn, thành phẩm và các thông tin liên quan từ điểm xuất xứ đến điểm tiêu thụ, nhằm mục đích thỏa mãn những yêu cầu của khách hàng Theo Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 (Điều 233): Trong Luật Thương mại 2005, lần đầu tiên khái niệm về dịch vụ Logistics được pháp điển hóa. Luật quy định “Dịch vụ Logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, 8 làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan tới hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao” 2.2 Chức năng và vai trò của Logistics Logistics đóng vai trò liên kết hoạt động kinh tế quốc tế, tối ưu hóa chu trình lưu chuyển hàng hóa từ khâu chuẩn bị nguyên vật liệu đến khâu phân phối thành phẩm đến tay khách hàng 1. Logistics cho phép nhà quản lý kiểm soát và ra quyết định chính xác về các vấn đề như nguồn nguyên liệu cung ứng, phương tiện và hành trình vận tải, địa điểm, khi nào bán thành phẩm, để giảm tối đa chi phí phát sinh đảm bảo hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh 2.
Dịch vụ logistic góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế, tạo nên mối liên kết trong quá trình sản xuất, lưu thông cũng như phân phối hàng hóa 2. Tổng quan về chuyển đổi số. Khái niệm chuyển đổi số Theo (Thomas M. Siebel, 2019) chuyển đổi số là sự hội tụ của 4 công nghệ đột phá: điện toán đám mây (cloud computing), dữ liệu lớn (big data), internet vạn vật (IoT) và trí tuệ nhân tạo (AI).
Sự hội tụ này khiến cho phạm vi hoạt động và ảnh hưởng của chuyển đổi số hết sức rộng lớn. Tuy nhiên, có thể hiểu chuyển đổi số (tiếng Anh là Digital transformation) là quá trình thay đổi tổng thể và toàn diện của cá nhân, tổ chức về cách sống, cách làm việc và phương thức sản xuất dựa trên các công nghệ số. Tại Việt Nam, chuyển đổi số được đề cập nhiều trong hoạt động của cơ quan Nhà nước và doanh nghiệp. Chuyển đổi số trước tiên là chuyển đổi nhận thức.
Một cơ quan, tổ chức có thể tiến hành chuyển đổi số ngay thông qua việc sử dụng nguồn lực, hệ thống kỹ thuật 9 sẵn có để số hóa toàn bộ tài sản thông tin của mình, tái cấu trúc quy trình nghiệp vụ, cơ cấu tổ chức và chuyển đổi các mối quan hệ từ môi trường truyền thống sang môi trường số. Mỗi cơ quan, tổ chức và cả quốc gia cần tận dụng tối đa cơ hội để phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, trong đó, việc xác định sớm lộ trình và đẩy nhanh tiến trình chuyển đổi số trong từng ngành, từng lĩnh vực, từng địa phương có ý nghĩa sống còn, là cơ hội để phát triển các ngành, lĩnh vực, địa phương và nâng cao thứ hạng quốc gia. Đi nhanh, đi trước giúp dễ thu hút nguồn lực. Nếu đi chậm, đi sau, khi chuyển đổi số đã trở thành xu hướng phổ biến thì nguồn lực trở nên khan hiếm, cơ hội sẽ ít đi, sẽ bỏ lỡ cơ hội phát triển.
Phân biệt chuyển đổi số và số hóa Số hóa và chuyển đổi số không phải là 2 tên gọi khác của 1 khái niệm. Đây là 2 khái niệm độc lập và có những điểm giống và khác nhau như sau: Điểm giống nhau: Ứng dụng công nghệ vào việc phát triển các quy trình vận hành của tổ chức, tăng hiệu suất và chất lượng cho các công việc Mối liên quan giữa số hóa, số hóa quy trình và chuyển đổi số Điểm khác nhau: Tiêu chí so sánh Số hóa Chuyển đổi số Cần nhân sự giỏi về công Cần nhân sự sử dụng nghệ thông tin để xây thành thạo công nghệ Yếu tố con ngƣời dựng hệ thống lưu trữ trên thông tin để nhập thông môi trường Internet cho tin lên hệ thống và quản 10 doanh nghiệp. Cần sự tham gia của toàn bộ nhân sự trong doanh nghiệp, không phải chỉ cấp quản lý mới tham gia vào quá trình này. Tối thiểu từ 3 - 5 năm vì cần thay đổi mô hình kinh doanh, vận hành và tư duy Một vài tháng phụ thuộc làm việc của toàn bộ nhân vào lưu lượng thông tin, Thời gian thực hiện sự.
hạ tầng và năng lực nhân Chuyển đổi số cần nghiên sự. cứu kỹ lưỡng vào có kế hoạch chi tiết trước khi thực thi. Như vậy, sự khác biệt giữa số hóa và chuyển đổi số thể hiện rõ nhất ở điểm: số hóa là bước đầu tiên trong quá trình chuyển đổi số, nhằm đưa các thông tin lưu trữ ở dạng vật lý sang kỹ thuật số. Chuyển đổi số việc thay đổi tư duy và mô hình kinh doanh để ứng dụng những lợi ích mà số hóa và số hóa quy trình mang lại, để tiết kiệm chi phí, tăng hiệu suất công việc.
Từ đó có thể tạo ra nhiều giá trình mới cho doanh nghiệp. Thông tin về công ty TNHH vận tải và logistics Hƣng Thịnh Công Ty TNHH Vận Tải Và Logistics Hưng Thịnh có mã số thuế 0312880039, do ông/bà Trần Văn Thừa làm đại diện pháp luật, được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh ngày 04/08/2014. Công ty có ngành nghề kinh doanh chính là "Vận tải hàng hóa bằng đường bộ", do Chi cục Thuế thành phố Thủ Đức quản lý. 11 Địa chỉ trụ sở: Phòng 504, tòa nhà ST.MORITZ, 1014 Phạm Văn Đồng, Phường Hiệp Bình Chánh, Thành phố Thủ Đức, TP Hồ Chí Minh.
Thực trạng chuyển đổi số trong logistics Hiện nay khi chuyển đổi số ngành logistic trở thành nhu cầu tất yếu, nhiều doanh nghiệp đã chủ động tiếp cận ứng dụng nhiều những công nghệ hiện đại trong quá trình vận hành. Dưới đây là những công nghệ phổ biến nhất được các doanh nghiệp ngành logistic ứng dụng. Theo Hiệp hội DN dịch vụ Logistics Việt Nam (Vietnam Logistics Business Association - VLA), tốc độ phát triển của ngành Logistics tại Việt Nam những năm gần đây đã đạt tỷ suất tăng trưởng ấn tượng, với tốc độ phát triển khoảng 14% - 16% trong những năm gần đây. Quy mô của ngành đạt khoảng 40 - 42 tỷ USD mỗi năm.
Đặc biệt, dịch bệnh COVID-19 đã gây ra những thay đổi lớn trong tiêu dùng, phương thức hoạt động và thương mại, đồng thời thúc đẩy sự phát triển của hình thức hậu cần trực tuyến (e-Logistics). Theo một nghiên cứu của công ty tư vấn chiến lược toàn cầu McKinsey, quá trình chuyển đổi số trước đây có thể mất khoảng 5 năm để được áp dụng vào doanh nghiệp và người tiêu dùng. Tuy nhiên, dưới tác động của đại dịch, quá trình này đã được thực hiện trong chỉ 8 tuần. Thị trường logistics tại Việt Nam hiện đang có sự tham gia của hơn 3.000 doanh nghiệp, với sự phân bổ vốn và quy mô khác nhau.
Trong số này, 89% là các doanh nghiệp Việt Nam có quy mô vừa và nhỏ, với số vốn dưới 10 tỷ đồng. Khoảng 5% có vốn từ 10 đến 20 tỷ đồng, 10% là các doanh nghiệp liên doanh và chỉ 1% là doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài (khoảng 30 doanh nghiệp) chuyên cung cấp dịch vụ logistics xuyên quốc gia. Các thương hiệu lớn phải kể đến như DHL, FedEx, Maersk Logistics, APL Logistics, CJ Logistics,. 12 Tuy nhiên, chỉ có một nhóm nhỏ các công ty lớn có thể đáp ứng các yêu cầu và điều kiện của quá trình chuyển đổi số.
Chẳng hạn như DHL, FedEx cùng với các thương hiệu hàng đầu của Việt Nam như Viettel Post và Vietnam Post. Theo Cục Thương mại điện tử và kinh tế số (Bộ Công Thương), thương mại điện tử tăng trưởng 35%/năm; doanh số bán lẻ thương mại điện tử của Việt Nam trong giai đoạn 2014-2020 ước tính tăng 20%/năm và tổng doanh số bán lẻ thương mại điện tử Việt Nam dự kiến đạt 10 tỷ USD vào năm 2020. Những thay đổi trong thương mại điện tử trên thế giới và tại Việt Nam đã thúc đẩy ngành logistics đổi mới phương thức cung cấp dịch vụ theo hướng ngày càng chuyên nghiệp và hiệu quả hơn. Ví dụ điển hình của đại cuộc chuyển đổi số ngành Logistics phải kể đến Cảng quốc tế Tân Cảng Cái Mép, trong năm 2021, bất chấp khó khăn trong đại dịch Covid 19, cảng đã ghi nhận một kỷ lục mới với sản lượng xếp dỡ container từ 14.235 TEU gia tăng lên 15.615 TEU và công suất xếp dỡ đạt 238,08 container/giờ.
Ngoài ra, tàu One Columba cũng đã vượt qua mốc 2 triệu TEU về lượng hàng hóa. Tàu này cũng đóng góp hơn 55% thị phần trong việc vận chuyển container xuất nhập khẩu thông qua các cảng biển trên toàn quốc. Lý thuyết New Information Technologies (NIT). Khung lý thuyết của nghiên cứu này dựa trên lý thuyết New Information Technologies (NIT).
Bằng cách triển khai các công nghệ mới phù hợp với văn hóa và môi trường của doanh nghiệp, NIT hỗ trợ các doanh nghiệp chuyển đổi quy trình công nghệ, sản xuất và vận hành.