Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BỒI THƢỜNG THIỆT HẠI VÀ SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT 1. Khái niệm, ý nghĩa của bồi thƣờng thiệt hại 1. Khái niệm bồi thường thiệt hại Trong quá trình tồn tại, mỗi cá nhân nói riêng và các chủ thể khác của quan hệ xã hội nói chung đều có thể gặp phải những rủi ro, thiệt hại về vật chất, tinh thần, thậm chí là thiệt hại về sức khỏe, tính mạng. Những thiệt hại này có thể do yếu tố khách quan gây ra nhưng cũng có thể do hành vi của chính người bị thiệt hại, hay do chủ thể khác gây ra.
Thiệt hại thường được hiểu là việc một chủ thể bị mất hoặc giảm sút những lợi ích vật chất hoặc tinh thần do những nguyên nhân chủ quan hoặc khách quan. Thông thường, khi xảy ra thiệt hại, vấn đề bồi thường sẽ được đặt ra như: chủ thể bị thiệt hại có được bồi thường không, chủ thể nào có trách nhiệm bồi thường, mức bồi thường, cách thức bồi thường, … Về mặt khái niệm, bồi thường được hiểu là sự đền bù bằng tiền đối với những thiệt hại về vật chất và tinh thần mà người gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm [9]. Qua đó, chủ thể bị thiệt hại được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp. Những quyền và lợi ích hợp pháp này có thể bao gồm quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn góp trong doanh nghiệp,.
Quyền và lợi ích hợp pháp cũng có thể bao gồm quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự. Những quyền này được bảo vệ thông qua các quy định của nhiều ngành luật khác nhau như: luật dân sự, luật hình sự, luật lao động, luật thương mại,… Thông qua các quy định này, nhà nước đảm bảo rằng các chủ thể có hành vi gây thiệt hại có nghĩa vụ bồi 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thường, khắc phục hậu quả của những hành vi mình gây ra đối với các chủ thể bị thiệt hại. Tiếp cận dưới góc độ pháp luật dân sự, có thể nói, mỗi người sống trong xã hội đều phải tôn trọng quy tắc chung của xã hội, không thể vì lợi ích của mình mà xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Khi một người vi phạm nghĩa vụ pháp lý của mình gây tổn hại cho người khác thì chính người đó phải chịu bất lợi do hành vi của mình gây ra.
Sự gánh chịu một hậu quả bất lợi bằng việc bù đắp tổn thất cho người khác được hiểu là bồi thường thiệt hại. Như vậy, theo dân sự, có thể hiểu trách nhiệm bồi thường thiệt hại là một loại trách nhiệm dân sự mà theo đó thì khi một người vi phạm nghĩa vụ pháp lý của mình gây tổn hại cho người khác phải bồi thường những tổn thất mà mình gây ra [13]. Trong luật kinh doanh thương mại, bồi thường thiệt hại là một chế tài tiền tệ dùng để bù đắp những thiệt hại thực tế cho bên bị thiệt hại trong quan hệ pháp luật được các quy phạm pháp luật kinh doanh điều chỉnh [19]. Bên cạnh các ngành luật nói trên, vấn đề bồi thường thiệt hại còn được quy định khá đa dạng trong luật lao động, chẳng hạn như bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng lao động, bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe; bồi thường thiệt hại do gây thiệt hại về tài sản trong quan hệ lao động,… Điểm chung của các quan hệ bồi thường thiệt hại do luật lao động điều chỉnh là: Chủ thể bị thiệt hại và chủ thể gây thiệt hại là các bên trong quan hệ xã hội thuộc phạm vi điều chỉnh của luật lao động; Hành vi gây thiệt hại và hậu quả pháp lý có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của NLĐ hoặc NSDLĐ theo quy định của pháp luật lao động.
Trong giáo trình Luật lao động của ĐH Luật Hà Nội không đưa ra một định nghĩa toàn diện về bồi thường thiệt hại trong pháp luật lao động mà chỉ đưa ra định nghĩa về bồi thường thiệt hại về vật chất trong QHLĐ, một trường 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hợp của bồi thường thiệt hại trong lao động như sau: “Bồi thường thiệt hại về vật chất trong quan hệ lao động là nghĩa vụ của NLĐ phải bồi thường những thiệt hại về tài sản cho NSDLĐ do hành vi vi phạm kỉ luật lao động, vi phạm hợp đồng trách nhiệm gây ra” [20, tr. Tương tự như vậy, trong giáo trình Luật lao động của Viện ĐH Mở cũng không đưa ra định nghĩa về bồi thường thiệt hại trong pháp luật lao động mà chỉ đưa ra định nghĩa về trách nhiệm vật chất: Trách nhiệm vật chất là một loại trách nhiệm pháp lý do người sử dụng lao động áp dụng đối với người lao động bằng cách buộc người lao động phải bồi thường những thiệt hại về vật chất cho người sử dụng lao động do hành vi vi phạm kỷ luật lao động, vi phạm hợp đồng trách nhiệm gây ra [22, tr. Nguyễn Hữu Chí: Bồi thường thiệt hại trong luật lao động là một loại trách nhiệm pháp lý phát sinh khi một bên trong quan hệ lao động có hành vi vi phạm nghĩa vụ, gây thiệt hại cho bên kia nhằm khôi phục tình trạng tài sản, bù đắp tổn thất về tinh thần, sức khỏe cho người bị thiệt hại [4, tr. Tóm lại, nghiên cứu về bồi thường thiệt hại từ những góc độ pháp luật khác nhau,có thể đưa ra một khái niệm chung nhất về bồi thường thiệt hại như sau: Bồi thường thiệt hại có thể hiểu là một loại trách nhiệm dân sự mà theo đó thì khi một người vi phạm nghĩa vụ pháp lý của mình gây tổn hại cho người khác phải bồi thường những tổn thất mà mình gây ra.
Thông thường, bồi thường thiệt hại chỉ đặt ra khi thoả mãn các điều kiện nhất định đó là: Có thiệt hại xảy ra, có hành vi vi trái pháp luật, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại với thiệt hại xảy ra, có lỗi của người gây thiệt hại. Đây là những điều kiện chung nhất để xác định trách 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhiệm của một người phải bồi thường những thiệt hại do mình gây ra. Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể phát sinh khi không có đủ các điều kiện trên. Bồi thường thiệt hại luôn mang đến một hậu quả bất lợi về tài sản cho người gây thiệt hại.
Bởi lẽ, khi một người gây ra tổn thất cho người khác thì tổn thất đó phải tính toán được bằng tiền hoặc phải được pháp luật quy định là một đại lượng vật chất nhất định nếu không sẽ không thể thực hiện được việc bồi thường. Do đó, những thiệt hại về tinh thần mặc dù không thể tính toán được nhưng cũng sẽ được xác định theo quy định của pháp luật để bù đắp lại tổn thất cho người bị thiệt hại. Và cũng chính vì vậy, thực hiện trách nhiệm bồi thường sẽ giúp khôi phục lại thiệt hại cho người bị thiệt hại. Chủ thể bị áp dụng bồi thường thiệt hại: bên cạnh người trực tiếp có hành vi gây thiệt hại thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại còn có thể được áp dụng cả đối với những chủ thể khác đó là cha, mẹ của người chưa thành niên, người giám hộ của người được giám hộ, pháp nhân đối với người của pháp nhân gây ra thiệt hại, trường học, bệnh viện trong trường hợp người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại hoặc tổ chức khác như cơ sở dạy nghề… 1.
Ý nghĩa của bồi thường thiệt hại Thứ nhất, chế định bồi thường thiệt hại góp phần tích cực trong việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của chủ thể bị thiệt hại và chủ thể gây thiệt hại. Chính nhờ có những quy định về bồi thường thiệt hại như: căn cứ bồi thường, mức bồi thường,. mà các chủ thể nắm bắt quyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia vào quan hệ pháp luật. Bồi thường thiệt hại rất đa dạng, có thể chia thành bồi thường thiệt hại theo hợp đồng, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, hoặc cũng có thể chia thành bồi thường thiệt hại về vật chất và bồi 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thường thiệt hại về tinh thần,.
Hiểu được bản chất của chế độ bồi thường thiệt hại, các điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại sẽ giúp cho các chủ thể trong quan hệ pháp luật, chủ thể nhà nước, và các chủ thể liên quan có cách hành động phù hợp với quy định của pháp luật, quy chuẩn đạo đức xã hội. Chẳng hạn như, đối với vấn đề bồi thường thiệt hại trong lao động, NLĐ là người trực tiếp tham gia vào việc vận hành máy móc, thiết bị trong quá trình lao động. Đồng thời, họ cũng là người phải thường xuyên đối mặt với những nguy cơ gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe dẫn đến tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp. Nếu được bồi thường những lợi ích hợp pháp và chính đáng khi thiệt hại xảy ra, người lao động mới có điều kiện để hồi phục sức khỏe, tiếp tục tham gia quan hệ lao động hoặc khắc phục những khó khăn trong cuộc sống.
Việc pháp luật lao động quan tâm bảo vệ những lợi ích vật chất và tinh thần của người lao động, không để NSDLĐ vi phạm hoặc buộc NSDLĐ phải bồi thường nhanh chóng, đầy đủ và kịp thời đối với những thiệt hại mà người lao động gặp phải trong quá trình lao động như thiệt hại về tiền lương, thiệt hại về sức khỏe, thiệt hại do chấm dứt hợp đồng lao động… đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng để bảo vệ tốt hơn quyền lợi của người lao động. Thứ hai, chế định bồi thường thiệt hại góp phần giáo dục và nâng cao ý thức pháp luật của các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật. Ý thức pháp luật ở đây là ý thức chấp hành quy định của pháp luật, chẳng hạn như trong lao động thì đó là kỷ luật lao động, tuân thủ nội quy lao động của người lao động, hay an toàn, vệ sinh lao động của NSDLĐ. Các quy định về bồi thường thiệt hại cũng nâng cao ý thức pháp luật của các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật, từ đó hạn chế được những thiệt hại đáng tiếc có thể xảy ra.