Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP 1. Khái niệm về đất nông nghiệp, thu hồi, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp 1.1 Khái niệm đất nông nghiệp Việt Nam là một nước nông nghiệp, có đến 70% dân số lao động trong lĩnh vực này. Vì vậy từ xưa cho đến nay đất nông nghiệp có vai trò vô cùng to lớn đối với sự phát triển của nước ta, nó được coi là tư liệu sản xuất truyền thống quan trọng bậc nhất với người dân. Chả thế mà nhà sử học Phan Huy chú đã cho rằng : “của báu một nước không gì quý bằng đất đai, nhân dân và của cải đều do đấy mà sinh ra” [47].
Vậy đất nông nghiệp là gì? Đây là một thuật ngữ không xa lạ đối với mỗi người Việt Nam. Đối với nhiều người, đất nông nghiệp là đất trồng lúa, trồng rau, trồng cây hoa màu như đậu, ngô, sắn, khoai…Tuy nhiên, dưới góc độ pháp lý, thì đất nông nghiệp không chỉ có vậy. Theo Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học của Viện Khoa học Pháp lý (Bộ Tư pháp) đã định nghĩa: “Đất nông nghiệp là tổng thể các loại đất được xác định là tư liệu sản xuất chủ yếu phục vụ cho việc trồng trọt và chăn nuôi, nghiên cứu thí nghiệm về trồng trọt và chăn nuôi, bảo vệ môi trường sinh thái, cung ứng sản phẩm cho các ngành công nghiệp và dịch vụ” [34, tr 237-238]. Theo Luật Đất đai năm 1993 thì đất nông nghiệp là một trong sáu loại đất đai của nước ta gồm có đất nông nghiệp, đất chuyên dùng, đất lâm nghiệp, đất khu dân cư nông thôn, đất đô thị, đất chưa sử dụng.
Và đất nông nghiệp được hiểu là đất chủ yếu dùng để sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản hoặc nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp (Điều 42, Luật Đất đai 1993). Đến năm 2003 khi ban hành Luật đất đai mới, Nhà nước ta lại căn cứ vào mục đích sử dụng để phân loại đất và đưa ra khái niệm rộng hơn, theo đó thì đất đai được chia thành ba loại nhóm đất, gồm: nhóm đất nông nghiệp, nhóm đất chưa sử 7 n dụng và nhóm đất phi nông nghiệp. Nhóm đất nông nghiệp lúc này bao gồm các loại đất sau: 02 loại đất trồng cây gồm: trồng cây hằng năm (như đất lúa, đất trồng cỏ chăn nuôi, đất trồng cây khác) và trồng cây lâu năm; 03 loại đất rừng gồm đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ và đất rừng đặc dụng; đất làm muối; đất nuôi trồng thủy sản; và đất nông nghiệp khác (Điều 13, Luật Đất đai 2003). Năm 2013, để phù hợp với tình hình thực tiễn mới của đất nước, Nhà nước ta đã ban hành Luật đất đai 2013, ngoài việc kế thừa những quy định trong Luật đất đai 2003 như vẫn phân chia đất đai thành ba nhóm, thì trong Luật có sửa đổi một số nội dung như: thứ nhất, đất trồng cây hằng năm chỉ bao gồm đất lúa, và đất trồng cây khác, như vậy đất đồng cỏ chăn nuôi đã được gộp vào đất trồng cây khác; thứ hai, đất nông nghiệp khác đã được nêu rõ cụ thể các loại đất gồm đất để xây dựng nhà kính và các loại nhà khác cho mục đích trồng trọt (có cả hình thức trồng trọt không ở trên đất); đất làm chuồng trại để chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm và những động vật khác mà pháp luật cho phép; đất trồng trọt, nuôi trồng thủy sản và chăn nuôi dùng vào mục đích học tập và nghiên cứu, thí nghiệm; đất dùng để ươm tạo cây giống và con giống cùng với đất trồng hoa và cây cảnh (Điều 10 Luật Đất đai năm 2013).
Như vậy có thể thấy trong Luật Đất đai năm 2013 khái niệm về đất nông nghiệp cơ bản không có nhiều điểm khác với Luật đất đai năm 2003, mà chỉ mở rộng hơn về phạm vi, đã chỉ ra các loại đất có thể sử dụng và khai thác phục vụ cho sản xuất nông nghiệp. Qua những phân tích ở trên, đất nông nghiệp có thể được hiểu như sau: Đất nông nghiệp gồm các loại đất mà đặc tính sử dụng của chúng là giống nhau, nó vừa là tư liệu sản xuất chủ yếu vừa là tài liệu lao động vừa là đối tượng lao động và đặc biệt không thể thay thế được trong sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, trồng rừng, nuôi trồng thủy sản, đất làm muối; nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp. Khái niệm về thu hồi đất nông nghiệp Trong Hiến pháp 2013 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã khẳng định nguyên tắc đất đai thuộc sở hữu của toàn dân mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu. Nhà nước thực hiện quyền sở hữu thông qua việc quản lý, định đoạt đất đai.
Một trong những quyền quan trọng của Nhà nước, đó là giao đất, cho thuê đất và thu hồi đất đối với người sử dụng đất. Vậy thu hổi đất là gì? Trước năm 2003, ở nước ta không có văn bản luật nào định nghĩa rõ khái niệm về thu hồi đất mà chỉ đơn giản là nêu ra các trường hợp phải thu hồi đất (Điều 14 và Điều 26 trong Luật đất đai 1987 và Luật đất đai 1993). Đến khi Luật đất đai 2003 ban hành, khái niệm về thu hồi đất mới được nêu rõ. Theo đó thì “Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn quản lý theo quy định của Luật” (Điều 4 Luật đất đai 2003).
Như vậy, có thể thấy tuy khái niệm Thu hồi đất đã được chỉ ra và giải thích, tuy nhiên cách giải thích này vẫn chưa đầy đủ và chính xác. Bởi vì, nó khiến người ta hiểu rằng chỉ có tổ chức hay Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn mới bị thu hồi quyền sử dụng đất. Trong khi đó, trên thực tế thì việc thu hồi quyền sử dụng đất nói chung và đất nông nghiệp nói riêng chủ yếu là đối với hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất. Như đã nói ở trên, Việt Nam là nước duy nhất quy định và thực hiện chế độ sở hữu toàn dân đối với toàn bộ đất đai.
Do vậy có nhiều quan điểm khác nhau khi bàn về khái niệm “thu hồi đất”. Có quan điểm cho rằng, Nhà nước chỉ thu hồi đất đối với các trường hợp do vi phạm pháp luật về đất đai và do chấm dứt quyền sử dụng đất tự nguyện hoặc theo pháp luật. Bởi lẽ người dân tuy không có quyền sở hữu đất nhưng lại có quyền sử dụng đất khi được Nhà nước giao đất nên họ có quyền định đoạt quyền sử dụng đất của mình. Do vậy, Nhà nước nên dùng cơ chế trưng mua quyền sử dụng đất thay vì cơ chế thu hồi khi Nhà nước có nhu cầu sử dụng đất cho các mục đích về quốc phòng, an ninh quốc gia, lợi ích công cộng, lợi ích quốc gia và cho phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
9 n Tuy còn nhiều quan điểm khác nhau, nhưng trong Hiến pháp năm 2013 quy định việc Nhà nước là đại diện chủ sở hữu toàn dân đối với đất đai và thống nhất quản lý, là cơ sở để hiểu đúng hơn về khái niệm “thu hồi đất”: “Nhà nước thu hồi đất do tổ chức, cá nhân đang sử dụng trong trường hợp thật cần thiết do luật định vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. Từ Hiến pháp năm 2013, khi ban hành Luật Đất đai năm 2013 khái niệm về thu hồi đất đã được cụ thể như sau: “Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai” (Điều 4 Luật Đất đai năm 2013). Từ đó, có thể hiểu thu hồi đất là việc Nhà nước thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã trao cho người sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai bằng các quyết định hành chính do Nhà nước ban hành. Từ khái niệm này có thể hiểu: Thu hồi đất nông nghiệp là việc Nhà nước thu lại đất nông nghiệp và quyền sử dụng đất nông nghiệp đã giao cho người sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai bằng các quyết định hành chính do Nhà nước ban hành.
Nếu nói thu hồi đất nông nghiệp có tác động tích cực đến đời sống xã hội như việc chuyển mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp sang các mục đích sử dụng khác để để khai thác có hiệu quả hơn góp phần phát triển kinh tế xã hội của cả nước thì cũng không thể không nhắc đến hệ quả trái chiều của việc thu hồi đất nông nghiệp. Như đã phân tích ở trên, đất nông nghiệp không chỉ là tư liệu sản xuất mà nó còn là nguồn sống, là cả một nền văn hóa truyền thống của người dân do vậy hệ quả của việc thu hồi đất nông nghiệp là vô cùng lớn, nó ảnh hưởng mạnh mẽ tới đời sống của người dân có đất bị thu hồi. Tác động đầu tiên chính là việc thiệt hại về mặt tài sản, người bị thu hồi đất nông nghiệp không những bị mất đi quyền sử dụng đất, họ phải chịu cả việc thiệt hại về công sức bỏ ra để xây dựng các công trình hạ tầng trên đất, công sức trồng cây cối, hoa màu trên đất, và cả việc thiệt hại do không được khai thác hoa lợi, lợi 10 n tức phát sinh từ đất. Đất nông nghiệp là tư liệu sản xuất chính trong nông nghiệp do vậy những thiệt hại về cây cối, nông sản, hoa lợi, lợi tức trong tương lai là vô cùng to lớn có thể kéo theo cả những bất ổn về an ninh lương thực của cả một quốc gia.
Tác động thứ hai phải nói đến chính là việc thiệt hại về chi phí đầu tư vào đất. Để sử dụng hiệu quả đất nông nghiệp, người sử dụng đất đã phải đầu tư, bỏ công sức, tiền bạc để có thể giúp đất nông nghiệp phù hợp với các loại hình sản xuất nông nghiệp và các mô hình chăn nuôi của mình. Quá trình đầu tư đó không nhỏ và có thể còn mất rất nhiều thời gian và công sức như vấn đề san lấp mặt bằng, tôn tạo đất có nơi có địa phương mất cả chục năm.