CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu Xác định được nhiệm vụ quan trọng việc phát hiện, bồi dưỡng học sinh giỏi Hóa học, đã có đã có một số luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ và khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu về vấn đề này như: 1. Các luận án tiến sĩ - “Nội dung và phương pháp bồi dưỡng học sinh giỏi ở trường trung học phổ thông về hóa học” (1971) của Vương Thị Hanh, Đại học Sư phạm Matxcova. - “ Xây dựng hệ thống bài tập hóa học nhằm rèn luyện tư duy trong việc bồi dưỡng học sinh giỏi hóa học ở trường trung học phổ thông” (2006) của Vũ Anh Tuấn, ĐH Sư phạm Hà Nội.
Các luận văn thạc sĩ - “ Xây dựng hệ thống bài tập hóa vô cơ nhằm rèn luyện tư duy trong bồi dưỡng học sinh giỏi trường trung học phổ thông” (2007) của Đỗ Văn Minh, đại học Sư phạm Hà Nội. - “Hệ thống lý thuyết - xây dựng hệ thống bài tập phần kim loại dùng cho bồi dưỡng học sinh giỏi và chuyên hóa học trung học phổ thông”, Luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Thị Lan Phương (2007) - đại học Sư phạm Hà Nội. - “ Nội dung và biện pháp bồi dưỡng học sinh giỏi hóa học hữu cơ trung học phổ thông” (2009) của Lê Tấn Diện, đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh. - “ Tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập phần kim loại để bồi dưỡng học sinh giỏi hóa học trung học phổ thông lớp 12 – nâng cao” (2011) của Lại Thị Quỳnh Diệp, đại học Giáo Dục 1.
Các khóa luận tốt nghiệp - “ Bồi dưỡng học sinh giỏi quốc gia môn hóa học” (2006) của Trần Thị Đào, đại học Sư phạm phố Hồ Chí Minh. - “ Bồi dưỡng học sinh giỏi hóa học ở trường trung học phổ thông” (2006) của Đào Thị Hoàng Hoa, đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh. 5 z Qua việc tìm hiểu các luận văn, các khóa luận, chúng tôi rút ra nhiều bài học bổ ích trong quá trình thực hiện luận văn của mình. Chúng tôi nhận thấy rằng, việc nghiên cứu xây dựng lí thuyết, bài tập, rèn khả năng tư duy trong bồi dưỡng học sinh giỏi đã và đang thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, nhất là trong những năm gần đây.
Tuy nhiên, việc “Việc bồi dưỡng học sinh giỏi thông qua dạy học phần phi kim ” còn ít được quan tâm nghiên cứu. Lý luận về dạy học 1. Bản chất của quá trình dạy học [18] Bản chất của quá trình dạy học là quá trình nhận thức và thực hành của học sinh do giáo viên tổ chức và hướng dẫn nhằm giúp học sinh nắm vững hệ thống kiến thức, hình thành và phát triển năng lực thực hành sáng tạo. Hoạt động nhận thức.
Nó là tiền đề của hai mặt kia đồng thời có mối liên hệ chặt chẽ với chúng và các hiện tượng tâm lý khác. Có thể chia nhận thức thành 2 giai đoạn lớn: * Nhận thức cám tính (cảm giác và tri giác) Là sự phản ánh những thuộc tính bên ngoài của sự vật, hiện tượng thông qua sự tri giác của các giác quan. Cảm giác là hình thức khởi đầu trong sự phát triển của hoạt động nhận thức, nó chỉ phản ánh những thuộc tính riêng lẻ của sự vật, hiện tượng. Tri giác phản ánh sự vật, hiện tượng một cách trọn vẹn và theo một cấu trúc nhất định.
* Nhận thức lý tính ( tưởng tượng và tư duy ) Tưởng tượng là một quá trình phản ánh những điều chưa từng có trong kinh nghiệm của cá nhân bằng cách xây dựng những hình ảnh mới trên cơ sở những biểu tượng đã có. Tư duy là một quá trình tâm lý phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ bên trong có tính quy luật của sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách 6 z quan mà trước đó ta chưa biết. Như vậy tư duy là quá trình tìm kiếm và phát hiện cái mới về chất một cách độc lập. Nét nổi bật của tư duy là tính “có vấn đề” tức là trong hoàn cảnh có vấn đề tư duy được nảy sinh.
Tư duy là mức độ lý tính nhưng có liên quan chặt chẽ đến nhận thức cảm tính. Nó có khả năng phản ánh những thuộc tính bản chất của sự vật, hiện tượng. Như vậy tư duy là khâu cơ bản của quá trình nhận thức. Nắm bắt được quá trình này người GV sẽ hướng dẫn tư duy khoa học cho HS trong suốt quá trình dạy và học môn hóa ở trường phổ thông.
* Những phẩm chất của tư duy Những phẩm chất của tư duy là: - Tính định hướng: Thể hiện ở ý thức nhanh chóng và chính xác đối tượng cần lĩnh hội, mục đích phải đạt và con đường tối ưu để đạt mục đích đó. - Bề rộng: Thể hiện khả năng vận dụng nghiên cứu các đối tượng khác. - Độ sâu: Thể hiện ở khả năng nắm vững ngày càng sâu sắc bản chất của sự việc, hiện tượng. - Tính linh hoạt: Thể hiện ở sự nhạy bén trong việc vận dụng những tri thức và cách thức hành động vào các tình huống khác nhau một cách sáng tạo.
- Tính mềm dẻo: Thể hiện ở hoạt động tư duy được tiến hành theo các hướng xuôi và ngược chiều (Ví dụ: Từ cụ thể đến trừu tượng và từ trừu tượng đến cụ thể…) - Tính độc lập: Thể hiện ở chỗ tự mình phát hiện được vấn đề, đề xuất cách giải quyết và tự giải quyết vấn đề. - Tính khái quát: Thể hiện ở chỗ khi giải quyết mỗi loại nhiệm vụ đưa ra mô hình khái quát. Từ mô hình khái quát này có thể vận dụng để giải quyết các vấn đề cùng loại. * Rèn luyện các thao tác tư duy trong dạy học hóa học ở trường phổ thông Trong việc phát triển năng lực nhận thức của học sinh, khâu trung tâm là phát triển năng lực tư duy đặc biệt cần chú trọng rèn cho học sinh thao tác tư duy: Phân tích và tổng hợp, so sánh, khái quát hóa và ba phương pháp hình thành phán đoán mới: suy lý quy nạp, suy lý diễn dịch, suy lý tương tự ( hay loại suy) - Phân tích “Là quá trình tách các bộ phận của sự vật, hiện tượng tự nhiên của hiện thực với các dấu hiệu và thuộc tính của chúng cũng như các mối liên hệ và quan hệ giữa chúng theo một hướng xác định”.
7 z Xuất phát từ góc độ phân tích các hoạt động tư duy đi sâu vào bản chất thuộc tính của bộ phận từ đó đi tới những giả thiết và kết luận khoa học. Trong học tập, hoạt động này rất phổ biến. Ví dụ: Muốn giải một bài toán hóa học, phải phân tích các yếu tố dữ liệu từ đó mới giải được. - Tổng hợp “Là hoạt động nhận thức phản ánh của tư duy biểu hiện trong việc xác lập tính thống nhất của các phẩm chất, thuộc tính của các yếu tố trong một sự vật nguyên vẹn có thể có được trong việc xác định phương hướng thống nhất và các định các mối liên hệ, các mối quan hệ giữa các yếu tố của sự vật nguyên vẹn đó, trong việc liên kết và liên hệ giữa chúng và chính vì vậy là đã thu được một sự vật và hiện tượng nguyên vẹn mới.
Phân tích và tổng hợp không phải là hai phạm trù riêng rẽ của tư duy. Đây là hai quá trình có liên hệ biện chứng. Phân tích để tổng hợp có cơ sở và tổng hợp là bảo đảm hình thành của toàn bộ tư duy và các hình thức tư duy của HS. - So sánh “Là xác định sự giống nhau và khác nhau giữa các sự vật hiện tượng của hiện thực”.
Trong hoạt động tư duy của HS thì so sánh giữ vai trò tích cực. Việc nhận thức bản chất của sự vật, hiện tượng không thể có nếu không có sự tìm ra sự khác biệt sâu sắc, sự giống nhau của sự vật, hiện tượng. Việc tìm ra những dấu hiệu giống nhau cũng như khác nhau giữa hai sự vật, hiện tượng là nội dung chủ yếu của tư duy so sánh. Cũng như tư duy phân tích, tư duy tổng hợp, tư duy so sánh có thể ở mức độ đơn giản (tìm tòi, thống kê, nhận xét) cũng có thể thực hiện trong quá trình biến đổi và phát triển.
- Khái quát hóa Khái quát hóa là hoạt động tư duy tách những thuộc tính chung và các mối liên hệ chung, bản chất của sự vật, hiện tượng tạo nên nhận thức mới dưới hình thức khái niệm, định luật, quy tắc. Động lực của quá trình dạy học[17] Xem xét các mâu thuẫn bên trong và bên ngoài hiện diện trong quá trình dạy học, chúng ta nhận thấy mâu thuẫn giữa một bên là nhiệm vụ học tập do tiến trình dạy học đặt ra và một bên là trình độ phát triển trí tuệ hiện có của học sinh luôn 8 z luôn xuất hiện trong suốt quá trình dạy học. Đây là mâu thuẫn cơ bản trong quá trình dạy học, việc giải quyết mâu thuẫn này tạo nên động lực chủ yếu cho quá trình dạy học. Các khâu của quá trình dạy học[17] Quá trình dạy học đạt hiệu quả trước tiên là nhờ có sự tuân thủ theo lôgic vận động được thể hiện qua từng bước.
Các khâu tạo nên một bước của quá trình dạy học gồm - Kích thích thái độ học tập tích cực của học sinh. - Tổ chức, điều khiển học sinh nắm tri thức mới. - Tổ chức, điều khiển học sinh củng cố tri thức: - Tổ chức, điều khiển học sinh rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo: - Kiểm tra, đánh giá việc nắm tri thức, kĩ năng, kĩ xảo của học sinh và tổ chức, điều khiển các em tự kiểm tra, tự đánh giá. Phương pháp dạy học Phương pháp dạy học là tổ hợp các cách thức hoạt động của thầy và trò trong quá trình dạy học được tiến hành dưới vai trò chủ đạo của thầy nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học.
Nhóm các phương pháp dạy học dùng lời: Bao gồm các phương pháp sau: Phương pháp thuyết trình, phương pháp dùng SGK và các tài liệu học tập, phương pháp vấn đáp. Phương pháp thuyết trình, là phương pháp giáo viên dùng lời nói để trình bày tài liệu học tập cho người học một cách có hệ thống. - Phương pháp thuyết trình được dùng khi giảng tài liệu học tập mới khi trình bày, làm sáng tỏ một vấn đề phức tạp, khó, thuyết trình dùng để hệ thống hoá, khái quát hoá tổng kết, ôn tập cho học sinh. Phương pháp dùng SGK và tài liệu học tập.