Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BỒI DƢỠNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1. Khái quát chung về công chức 1. Khái niệm về công chức Ở Việt Nam, khái niệm công chức được hình thành với nghĩa rộng, hẹp khác nhau tùy từng thời kỳ. Hiện nay, khái niệm công chức được quy định tại Khoản 2 Điều 4 Luật cán bộ công chức số 22/2008/QH12 ngày 13/11/2008 của Quốc hội, theo đó “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” [23].
Khái niệm về công chức cấp xã Ủy ban nhân dân cấp xã là mắc xích quan trọng trong việc phát huy hiệu lực của chính quyền địa phương, bảo đảm hoạt động quản lý hành chính nhà nước thông suốt từ trung ương xuống cơ sở. Để các chủ trương, đường lối, chính sách được thực hiện có hiệu quả trong đời sống nhân dân và phát triển kinh tế xã hội của địa phương thì vai trò của đội ngũ công chức cấp xã là rất lớn. Công chức cấp xã là một bộ phận của công chức nói chung, theo Khoản 3 Điều 4 Luật cán bộ công chức số 22/2008/QH12 ngày 13/11/2008 của Quốc 9 hội thì “Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [23]. Công chức cấp xã bao gồm các chức danh sau: - Trưởng Công an.
- Chỉ huy trưởng Quân sự. - Văn phòng - thống kê. - Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã). - Tài chính - kế toán.
- Tư pháp - hộ tịch. Công chức cấp xã có trách nhiệm giúp Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý nhà nước về lĩnh vực công tác và thực hiện những nhiệm vụ khác do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã giao. Mỗi chức danh công chức cấp xã có các tiêu chuẩn và nhiệm vụ riêng, vì vậy sau khi được tuyển dụng, công chức cấp xã cần tham gia các lớp bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ để cập nhật các kiến thức và nâng cao trình độ chuyên môn của mình, đáp ứng yêu cầu công việc chuyên môn theo vị trí được tuyển dụng. Bồi dƣỡng công chức 1.
Bồi dưỡng Hiện nay, khái niệm bồi dưỡng được sử dụng khá phổ biến trong các văn bản quy phạm pháp luật cũng như các tài liệu nghiên cứu ở nước ta, tuy nhiên, tùy vào cách tiếp cận mà bồi dưỡng có cách hiểu khác nhau. Ngày 01/9/2017, Chính phủ ban hành Nghị định số 101/2017/NĐ-CP về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức thay thế Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05/3/2010, tuy nhiên trong Nghị định 101/2017/NĐ-CP 10 lại không giải thích cụ thể khái niệm bồi dưỡng. Tại Điều 5 Nghị định số 18/2010/NĐ-CP giải thích “bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc” [9]. Theo đó, bồi dưỡng là quá trình hệ thống hóa và tiếp thu lại những kiến thức mà người học đã biết liên quan đến nội dung khóa học; bổ sung những kiến thức, kỹ năng còn thiếu hoặc bị lãng quên; cập nhật những kiến thức mới của ngành, lĩnh vực; nâng cao kiến thức, kỹ năng của người học nhằm đáp ứng tiêu chuẩn, yêu cầu của công việc.
Cần phân biệt rõ giữa hai khái niệm “bồi dưỡng” và “đào tạo” để có phương pháp, cách thức tiến hành cho phù hợp. “Đào tạo là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức, kỹ năng theo quy định của từng cấp học, bậc học” [9]. Theo đó, đào tạo giúp người học tiếp thu những kiến thức, kỹ năng mới để đạt trình độ cao hơn trình độ trước đó. Bồi dưỡng công chức 1.
Khái niệm bồi dưỡng công chức Về cơ bản, bồi dưỡng công chức là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc cho công chức. Đây là hoạt động tiếp nối và diễn ra sau quá trình đào tạo, bổ sung thêm kiến thức chuyên môn cho công chức trong quá trình làm việc trên nền tảng kiến thức đã được đào tạo. Xét về bản chất, bồi dưỡng công chức chính là quá trình tác động bằng các hình thức, phương pháp với những nội dung khác nhau để cập nhật, bổ túc thêm, mở rộng và nâng cao một số kiến thức, kỹ năng làm việc cho đội ngũ công chức sau khi đã được đào tạo cơ bản, phù hợp với yêu cầu giải quyết có chất lượng, hiệu quả công việc được giao. Có thể định nghĩa bồi dưỡng công chức một cách cụ thể như sau: Bồi dưỡng công chức là tổng thể các hoạt động có mục đích, có kế hoạch nhằm bổ sung, cập nhật hóa và mở rộng kiến thức, kỹ năng cần thiết sau khi đã được 11 đào tạo cơ bản, do các cơ sở bồi dưỡng công chức tiến hành dưới nhiều hình thức khác nhau nhằm không ngừng hoàn thiện năng lực và phẩm chất cho đội ngũ công chức đáp ứng chất lượng, hiệu quả yêu cầu nhiệm vụ được phân công [29].
Kết quả của các khóa bồi dưỡng công chức là những chứng chỉ ghi nhận việc học viên đã tham gia và hoàn thành các nội dung chương trình của lớp bồi dưỡng và đạt được các kiến thức, kỹ năng cần thiết đáp ứng tiêu chuẩn quy định, có đủ năng lực hoàn thành nhiệm vụ được giao như: Bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước, bồi dưỡng chuyên đề, công tác chuyên môn, nghiệp vụ, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh,… 1. Vai trò của bồi dưỡng công chức Đứng trước yêu cầu mới của phát triển đất nước, trước thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa và hội nhập sâu rộng, định hướng của Chính phủ nước ta hiện nay là xây dựng Chính phủ phục vụ, kiến tạo nền hành chính thân thiện mở cửa, để hội nhập với khu vực và quốc tế. Mục đích chính của bồi dưỡng công chức là bổ sung để nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc cho công chức, quá trình này có thể trang bị kiến thức mới nhưng chỉ là một nhóm kiến thức trên một lĩnh vực nhất định hay bồi dưỡng chuyên sâu, cập nhật những nội dung công tác, năng lực quản lý hay chuyên môn liên quan đến chức danh, ngạch công chức đang đảm nhiệm [25]. Đối với công chức, bồi dưỡng không chỉ góp phần xây dựng đội ngũ công chức đáp ứng yêu cầu của một nền hành chính chuyên nghiệp, quan trọng hơn nó còn có tác động tích cực đến nhiều mặt của đời sống kinh tế - xã hội.
Bồi dưỡng công chức góp phần nâng cao năng lực chuyên môn, nâng cao chất lượng hiệu quả thực thi công vụ của công chức, vì vậy cần tập trung vào trang bị kỹ năng, cách thức hoạt động thực thi công vụ, giáo dục thái độ thực 12 hiện công vụ thể hiện sự nhiệt tình, tinh thần trách nhiệm của người công chức. Đối với tổ chức thực hiện bồi dưỡng công chức, chứng tỏ rằng tổ chức sử dụng có hiệu quả tối đa sức lao động và có chiến lược tái đầu tư cho sức lao động; giúp công chức hiểu rõ bản chất công việc, nghề nghiệp, nâng cao khả năng thích ứng của công chức đối với công việc trong tương lai; Bồi dưỡng tốt, tổ chức sẽ duy trì và nâng cao được chất lượng công chức nhờ đội ngũ có trình độ chuyên môn; giúp tổ chức nâng cao tính ổn định, tính linh hoạt trong các hoạt động thực thi công vụ đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển của tổ chức; hoạt động bồi dưỡng giúp tổ chức chuẩn bị đội ngũ kế cận trong các giai đoạn phát triển. Đối với Nhà nước, bồi dưỡng công chức góp phần mang đến một nền hành chính chuyên nghiệp phục vụ các đối tượng như các tổ chức, doanh nghiệp, người dân được tốt hơn, đồng thời mang đến niềm tin của người dân chính là tiêu chí phục vụ của nền hành chính [35]. Nguyên tắc của bồi dưỡng công chức Để đảm bảo chất lượng công tác bồi dưỡng công chức thì việc tuân thủ các nguyên tắc trong bồi dưỡng công chức có vai trò hết sức quan trọng.
Các nguyên tắc trong bồi dưỡng công chức là điều kiện để hoạt động đào tạo, bồi dưỡng theo đúng định hướng đã đề ra. Trong bồi dưỡng công chức phải đảm bảo các nguyên tắc chung như: Đảm bảo các quan điểm, đường lối, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và nhà nước; Phải hướng vào việc thực hiện mục tiêu của tổ chức; Phải xuất phát từ nhu cầu của tổ chức, cá nhân; Phải gắn với việc sử dụng; Việc tổ chức bồi dưỡng công chức phải đảm bảo không gây ảnh hướng xấu đến quá trình hoạt động, công tác hàng ngày của tổ chức; Việc xây dựng kế hoạch bồi dưỡng phải có tính khả thi; Bồi dưỡng phải gắn với đảm bảo chất lượng và hiệu quả công việc. 13 Theo Điều 3 Nghị định 101/2017/NĐ-CP về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức thì nguyên tắc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức nói chung và bồi dưỡng công chức nói riêng phải đảm bảo 04 nguyên tắc cơ bản sau: Một là, phải căn cứ vào tiêu chuẩn ngạch công chức; gắn với công tác sử dụng, quản lý công chức, phù hợp với kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng và nhu cầu xây dựng, phát triển nguồn nhân lực của cơ quan, đơn vị. Hai là, thực hiện phân công, phân cấp trong tổ chức bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch công chức; kết hợp phân công và cạnh tranh trong tổ chức bồi dưỡng theo yêu cầu của vị trí việc làm.
Ba là, đề cao ý thức tự học và việc lựa chọn chương trình bồi dưỡng theo yêu cầu vị trí việc làm của công chức. Bốn là, bảo đảm công khai, minh bạch, hiệu quả [10]. Bồi dƣỡng công chức cấp xã 1. Mục tiêu, hình thức bồi dưỡng công chức cấp xã 1.