Chương 1: Cơ sở lý luận về bồi dưỡng công chức cấp xã. 5 Chương 2: Thực trạng công tác bồi dưỡng công chức cấp xã trên địa bàn huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Chương 3: Giải pháp chủ yếu hoàn thiện công tác bồi dưỡng công chức cấp xã trên địa bàn huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BỒI DƢỠNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1.
MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1. Các khái niệm cơ bản 1. Công ch c Mỗi một nhà nước trong tổ chức nền công vụ lại có những quan điểm khác nhau về công chức mà hiện nay trên thế giới chưa có một khái niệm thống nhất về công chức. Quan niệm về công chức ở mỗi quốc gia do đặc điểm về điều kiện lịch s , kinh tế, xã hội quy định.
Tuy nhiên, hiểu một cách chung nhất, “công chức là những công dân được tuyển dụng vào làm việc một cách thường xuyên trong các cơ quan nhà nước, do Ngân sách nhà nước chi trả”. Ở Việt Nam, sau rất nhiều thay đổi quy định từ Sắc lệnh số 76/SL của Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành vào ngày 20/5/1950, cho đến Nghị định 169/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng ban hành ngày 22/5/1991 và Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 1998 thì quan niệm về công chức có nhiều thay đổi. Tuy nhiên theo quy định tại khoản 2, Điều 4, Luật Cán bộ, Công chức năm 2008 quy định: “Công ch c là công dân Việt Nam, được tuyển d ng, bổ nhiệm vào ngạch, ch c v , ch c danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ ch c chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản VIệt Nam, Nhà nước, tổ ch c chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công ch c trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự 7 nghiệp công lập thì lương được đảm bảo từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” [ 15]. Như vậy, công chức là những người được bổ nhiệm, tuyển dụng và giữ một chức danh trong cơ quan nhà nước (chủ yếu là các cơ quan hành chính) nhằm thực thi các hoạt động công vụ và được đảm bảo lương từ ngân sách nhà nước.
Công ch c cấp xã Trước năm 2003, chưa có khái niệm về công chức cấp xã. Sau đó, tại Pháp lệnh số 11/2003/PL-UBTVQH11 ngày 29/4/2003 của Ủy ban thường vụ Quốc hội s a đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh cán bộ, công chức thông qua ngày 26/2/1998, đã quy định cán bộ, công chức cấp xã theo tại Điều 1, khoản 1 (điểm g, h): Những người do bầu c để đảm nhận chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, phó Bí thư Đảng ủy; người đứng đầu tổ chức chính trị xã hội xã, phường, thị trấn; Những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn nghiệp vụ thuộc ủy ban nhân dân cấp xã. Tuy nhiên, khi Luật Cán bộ, công chức ra đời 2008, tiếp theo đó là các nghị định, thông tư hướng dẫn, đặc biệt Thông tư số 06/2012/TT-BNV ngày 30/10/2012 của Bộ Nội vụ quy định (điều 1) quy định rõ về công chức cấp xã: “ Công ch c xã, phường, thị trấn ( xã, phường, thị trấn sau đây gọi chung là cấp xã) làm công tác chuy n môn thuộc bi n chế của Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện ch c năng quản lý nhà nước về lĩnh vực công tác được phân công và thực hiện các nhiệm v khác do Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã giao” Công chức cấp xã theo quy định của Luật Cán bộ có những điều kiện sau: - Là công dân Việt Nam; - Được tuyển dụng thông qua thi tuyển hoặc xét tuyển vào một vị trí chuyên môn cụ thể thuộc ủy ban nhân dân cấp xã; 8 - Trong biên chế và được hưởng lương từ ngân sách nhà nước; Cụ thể hóa Luật Cán bộ, công chức năm 2008; Nghị định số 92/2009/NĐ-CP của Chính phủ đã chỉ rõ công chức cấp xã gồm có 7 chức danh sau: - Trưởng Công an; - Chỉ huy trưởng Quân sự; - Văn phòng - thống kê; - Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã); - Tài chính - kế toán; - Tư pháp - hộ tịch; - Văn hóa - xã hội.2 Vai trò, nhiệm vụ của công chức cấp xã Trong sự nghiệp cách mạng của mình, Hồ Chí Minh luôn chú trọng đến việc xây dựng đội ng cán bộ, công chức có đầy đủ năng lực, phẩm chất phục vụ cho sự thắng lợi của cách mạng nói chung và cho công cuộc xây dựng đất nước nói riêng. Điều đó cho thấy rõ vị trí và vai trò quan trọng của đội ng cán bộ, công chức.
Từ trước đến nay, đội ng công chức cấp xã là một bộ phận không thể thiếu trong đội ng công chức nước ta. Mọi hoạt động của cấp xã đều do công chức cấp xã thực hiện. Như vậy, công chức cấp xã là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân. Vị trí, vai trò của đội ng công chức cấp xã được thể hiện ở những mặt sau: - Công chức cấp xã là người trực tiếp tuyên truyền, phổ biến đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước cho nhân dân và vận động nhân dân thực hiện tốt đường lối, chính sách, pháp luật đó trong cuộc sống.
Như vậy, công chức xã không chỉ là người quản lý địa bàn mà còn là mắt xích, là chất keo gắn kết giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước. 9 - Công chức cấp xã là người đảm nhận quản lý mọi mặt hoạt động ở địa bàn xã như: quản lý hành chính, quản lý tài chính, xây dựng, đất đai, an ninh trật tự, văn hóa xã hội… là người tiên phong gương mẫu trong việc thực hiện chính sách pháp luật và xây dựng văn hóa ở khu dân cư, đồng thời c ng là người giải quyết những thắc mắc, yêu cầu về lợi ích chính đáng của nhân dân. Chất lượng đội ng công chức cấp xã ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu lực và hiệu quả hoạt động của cấp xã. - Công chức cấp xã vừa là người đại diện Nhà nước, vừa là người đại diện cộng đồng, vừa là người cùng xóm, làng, có thể là cùng dòng họ.
Vì vậy, họ là người gần g i, sát dân nhất, trực tiếp nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, tình cảm của dân, đồng thời phản ánh lên chính quyền cấp trên, để cấp trên lấy làm căn cứ ra các quyết định chính sách đúng đắn. - Công chức cấp xã là người am hiểu các phong tục, tập quán truyền thống của địa phương, là người tập hợp được khối đại đoàn kết toàn dân ở cơ sở và phát huy tính tự quản của cộng đồng dân cư. Tóm lại, công chức cấp xã có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong việc ổn định hệ thống chính trị ở cơ sở từ đó thực hiện tốt các chính sách góp phần phát triển kinh tế xã hội, giữ vững an ninh trật tự của địa phương. Về nhiệm vụ của công chức cấp xã được quy định tại mục 2 Thông tư số 06/2012/TT-BNV của Bộ Nội vụ về Hướng dẫn về chức trách, tiêu chuẩn cụ thể, nhiệm vụ và tuyển dụng công chức xã, phường, thị trấn” đối với từng chức danh cụ thể.
NỘI DUNG VÀ YÊU CẦU BỒI DƢỠNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1. Nội dung công tác bồi dƣỡng công chức cấp xã 1. Quan niệm về bồi dưỡng và xác định nhu cầu bồi dưỡng công ch c a. Quan niệm về bồi dưỡng công ch c Đào tạo, bồi dưỡng là một thuật ngữ trong lĩnh vực quản trị nguồn nhân lực.
Hiện nay rất nhiều văn bản, tài liệu vẫn chưa có sự phân biệt rạch ròi giữa đào tạo và bồi dưỡng. 10 Theo Nguyễn Như Ý (chủ biên) Đại từ điển tiếng Việt – Nhà xuất bản Văn hóa – thông tin năm 1999: Đào tạo “dạy dỗ, rèn luyện để trở nên người có hiểu biết, có nghề nghiệp, đào tạo thành người có tri thức, đào tạo chuyên môn nghiệp vụ” [14].Làm khỏe thêm, mạnh thêm, bồi dưỡng sức khỏe. Làm cho tốt hơn, giỏi hơn, bồi dưỡng đạo đức, bồi dưỡng nghiệp vụ[16]. Theo định nghĩa của Ủy ban nhân lực nh năm 1981: đào tạo, bồi dưỡng là: “một quá trình có kế hoạch làm biến đổi thái độ, kiến th c hoặc kỹ năng thông qua việc học tập rèn luyện để làm việc có hiệu quả trong một hoạt động hoặc trong một loạt các hoạt động nào đó.
c đ ch của nó, xét theo tình hình công tác trong cơ quan, là phát triển nâng cao năng lực cá nhân và đáp ng nhu cầu nhân lực hiện tại và tương lai của cơ quan” [13]. Theo Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05 tháng 03 năm 2010 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng công chức (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/05/2010), tại Điều 5 nhận định:“Bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc”. Như vậy, có thể hiệu một cách chung nhất hoạt động bồi dưỡng là một quá trình bổ sung, cập nhật, củng cố kiến thức hoặc tăng thêm kiến thức mới cho người học nhằm đắp ứng yêu cầu mới của nhiệm vụ hàng ngày. Bồi dưỡng là quá trình làm cho con người tăng thêm năng lực, phẩm chất và bổ sung kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ cho người làm việc trong quá trình làm việc trên nền tảng của tri thức đã được đào tạo.
Xác định nhu cầu bồi dưỡng công ch c Mỗi cơ quan tổ chức tùy thuộc vào đặc trưng công việc của mình đều xây dựng một quy trình đào tạo, bồi dưỡng riêng song dựa trên bốn bước căn bản: - đánh giá nhu cầu đào tạo/bồi dưỡng; - lập kế hoạch đào tạo/bồi dưỡng; 11 - thực hiện kế hoạch đào tạo/bồi dưỡng; - đánh giá kết quả đào tạo/bồi dưỡng. Nhu cầu bồi dưỡng nói chung là những kiến thức, kỹ năng, phương pháp làm việc mà mỗi công chức cần có để đáp ứng yêu cầu công việc ở hiện tại và trong tương lai.