phần mở đầu, kết luận, mục lục, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu gồm 3 chƣơng, 8 tiết. 8 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BỒI DƢỠNG CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC UBND CẤP HUYỆN 1. Công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện 1. Khái niệm và đặc điểm công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện 1.
Khái niệm công chức Công chức là thuật ngữ chỉ những ngƣời đƣợc các cơ quan nhà nƣớc tuyển dụng, bổ nhiệm vào làm việc thƣờng xuyên trong các cơ quan công quyền và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc. Tất cả các nhà nƣớc trên thế giới đều xây dựng công chức của mình có khả năng và điều kiện để đảm nhiệm các công việc của các nhà nƣớc đó [28]. Lịch sử các triều đại phong kiến ngày xƣa ở nhiều nƣớc, đã có chế độ tuyển lựa, bồi dƣỡng, sử dụng, đãi ngộ đội ngũ quan lại, nha dịch của các triều đại đó. Ở nƣớc ta, sau khi giành đƣợc chính quyền năm 1945 đã hình thành đội ngũ công chức của nƣớc Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
Chủ tịch Hồ Chí Minh kí Sắc lệnh số 76/SL ngày 20.1950 ban hành quy chế công chức nêu rõ: "Những công dân Việt Nam đƣợc chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thƣờng xuyên trong các cơ quan chính phủ, ở trong hay ở ngoài nƣớc, đều là CC theo quy chế này, trừ những trƣờng hợp riêng biệt do Chính phủ quy định";[5] "ngƣời CC phải đem tất cả sức lực và tâm trí, theo đúng đƣờng lối của Chính phủ và nhằm lợi ích của nhân dân mà làm việc". Quy chế quy định rõ nghĩa vụ, quyền lợi, chế độ tuyển dụng, khen thƣởng, kỉ luật, nghỉ, sử dụng ngạch của CC. Chế độ CC Việt Nam sau này đƣợc thực hiện theo lộ trình từ Pháp lệnh CB, CC do Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội ban hành 1998, bổ sung, sửa đổi một số điều năm 2003. Hiện nay, dự thảo Luật Công vụ mới ra đời thay thế cho Pháp lệnh CB, 9 CC (2003), đang đƣợc đông đảo các tổ chức, cơ quan, cá nhân khắp cả nƣớc tham gia góp ý kiến để sớm ban hành và áp dụng vào cuộc sống.
Theo Pháp lệnh CB, CC (2003) thì đối tƣợng điều chỉnh là CB và CC, trong đó CB là khái niệm rộng hơn và đƣợc hiểu một cách chung nhất. Cán bộ, CC quy định tại Pháp lệnh này là công dân Việt Nam, trong biên chế, bao gồm: - Những ngƣời do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong cơ quan nhà nƣớc, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở TW; ở tỉnh, thành phố trực thuộc TW, ở quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; - Những ngƣời đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc đƣợc giao nhiệm vụ thƣờng xuyên làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở TW, cấp tỉnh, cấp huyện; - Những ngƣời đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch CC hoặc giao giữ một công vụ thƣờng xuyên trong các cơ quan nhà nƣớc ở TW, cấp tỉnh, cấp huyện; - Những ngƣời đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc giao giữ một nhiệm vụ thƣờng xuyên trong đơn vị sự nghiệp của Nhà nƣớc, tổ chức chính trị và tổ chức chính trị - xã hội; - Thẩm phán Tòa án nhân dân, Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân; - Những ngƣời đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc đƣợc giao nhiệm vụ thƣờng xuyên làm việc trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; làm việc trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sỹ quan chuyên nghiệp; - Những ngƣời do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo theo nhiệm kỳ trong Thƣờng trực HĐND, UBND; Bí thƣ, Phó Bí thƣ Đảng uỷ; ngƣời đứng đầu tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội xã, phƣờng, thị trấn; 10 - Những ngƣời đƣợc tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã [57]. Đến Luật số: 22/2008/QH12, Luật cán bộ, công chức ngày 13/11/2008. Có hiệu lực thực hiện từ ngày 01/01/2010 quy định công chức nhƣ sau: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch chức danh trong cơ quan Đảng Công sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Công sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được đảm bảo từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”.
Để hƣớng dẫn thi hành Luật cán bộ, công chức, ngày 25/01/2010, Chính phủ ban hành Nghị định số 06/2010/NĐ-CP quy định những ngƣời là công chức. Theo Nghị định này, căn cứ để xác định công chức gồm: “Là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật, làm việc trong các cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam, của tổ chức chính trị - xã hội, trong Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, Kiểm toán Nhà nước, trong các cơ quan Bộ và các tổ chức khác do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thành lập, trong các cơ quan hành chính cấp tỉnh, cấp huyện, trong hệ thống Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, trong cơ quan, đơn vị của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân, trong bộ máy lãnh đạo, quản lý đơn vị sự nghiệp công lập”. Cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện là cơ quan có nhiệm vụ tham mƣu giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nƣớc ở địa phƣơng và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự ủy quyền của Ủy ban nhân dân cấp huyện theo quy định của pháp luật, góp phần đảm bảo sự thống nhất quản lý của ngành hoặc lĩnh vực công tác từ trung ƣơng đến địa phƣơng. Theo Nghị định Số: 37/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định tổ chức cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện ban hành ngày 05/5/2014 và có hiệu lực ngày 20/6/2014.
Theo đó các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện bao gồm những cơ quan sau: Phòng Nội vụ; Phòng Tƣ pháp; Phòng Tài chính - Kế hoạch; Phòng Tài nguyên và Môi trƣờng; Phòng Lao động - Thƣơng binh và Xã hội; Phòng Văn hóa và Thông tin; Phòng Giáo dục và Đào tạo; Phòng Y tế; Thanh tra huyện; Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân. Ngoài 10 cơ quan chuyên môn đƣợc tổ chức thống nhất ở tất cả các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh quy định tại Điều 7 của Nghị định này, tổ chức một số cơ quan chuyên môn để phù hợp với từng loại hình đơn vị hành chính cấp huyện nhƣ sau: Ở các quận (phòng Kinh tế; Phòng Quản lý đô thị); ở các thị xã, thành phố thuộc tỉnh (phòng Kinh tế; phòng Quản lý đô thị); ở các huyện ( phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn;phòng Kinh tế và Hạ tầng); phòng Dân tộc: 1. Công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện Từ khái niệm công chức nhà nƣớc theo luật Cán bộ, Công chức năm 2008 thì công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện là những ngƣời đang làm việc trong các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện (các phòng ban), là một bộ phận nhân lực của hệ thống chính trị, gồm 12 những ngƣời đƣợc tuyển dụng, hoặc giao giữ một công vụ thƣờng xuyên trong hệ thống hành chính công quyền, đƣợc phân theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, đƣợc xếp vào một ngạch hành chính. Có thể hiểu công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện là một bộ phận của công chức, đang làm việc trong các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện theo Nghị định Số: 37/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định tổ chức cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện ban hành ngày 05/5/2014 và có hiệu lực ngày 20/6/2014 1.
Đặc điểm công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện Công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện là chủ thể của nền công vụ, là những ngƣời thực thi công vụ và đƣợc Nhà nƣớc đảm bảo các điều kiện cần thiết, quyền lợi chính đáng để có khả năng và yên tâm thực thi công vụ Công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện tƣơng đối ổn định, mang tính kế thừa, nhƣng luôn đòi hỏi không ngừng nâng cao về chất lƣợng Là lực lƣợng lao động chuyên nghiệp, có tỉnh chuyên môn hóa cao Hoạt động của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện diễn ra thƣờng xuyên, liên tục trên phạm vi rộng và mang tính phức tạp Công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện trung thành với Đảng, với Chính phủ, với Tổ quốc và nhân dân địa phƣơng 1. Khái niệm bồi dƣỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện Khái niệm “bồi dƣỡng” theo cuốn Đại từ điển Tiếng Việt của Giáo sƣ Nguyễn Nhƣ Ý chủ biên (Nxb. Văn hoá - Thông tin, Hà Nội 1998) có 2 nghĩa chính: Làm cho khoẻ thêm, mạnh thêm; làm cho tốt hơn, giỏi hơn. Còn theo 13 cuốn từ điển tiếng việt do Giáo sƣ Hoàng Phê chủ biên (Nxb.
Từ điển bách khoa, Hà Nội 2010) “bồi dƣỡng” đó là làm cho tăng thêm sức mạnh của cơ thể bằng chất bổ và tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất. Còn theo Nghị định số: 18/2010/NĐ-CP của chính phủ quy định về Đào tạo, bồi dƣỡng công chức ban hành ngày 05/8/2010, bồi dƣỡng công chức đƣợc hiểu nhƣ sau: Bồi dƣỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc; bồi dƣỡng theo tiêu chuẩn ngạch là trang bị kiến thức, kỹ năng hoạt động theo chƣơng trình quy định cho ngạch công chức; bồi dƣỡng theo vị trí việc làm là trang bị, cập nhật kiến thức, kỹ năng, phƣơng pháp cần thiết để làm tốt công việc đƣợc giao.