Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng đội ngũ cần bộ công chúc cấp huyện Chương 2: Thực trang chit lượng đội ngũ cân bộ, công chức cấp huyện tạ huyện Đồng Hj, tinh Thái Nguyên Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức tại huyện Đồng. Hy, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2016-2020 CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỀN VE CHAT LƯỢNG DOL NGU CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CAP HUYỆ! 1. Cơ sở lý luận về chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cắp huyện 1. Khái niệm, vai tro của đội ngũ cán bộ, công chức cấp huyện 1.
Khải niệm cán bổ Khai niệm ° án bộ" trước đây hường được sử dụng bao hàm một diện rất rộng về nhân sự thuộc khu vực nhà nước và các tổ chức chỉnh trị, các tổ chức chính trị - xã hội. “Thuật ngữ khi đồ thường dùng là “cán bộ, công nhân viên chức" bao quát tắt sã những, người làm công hưởng lương từ ngân sách nha nước, kẻ cả những người đứng đầu một cơ quan tới các nhân viên phục vụ như lái xe, bảo vệ hay lao động tạp vụ không phân biệt ai là cán bộ, công chức, viên chức. Củng với xu hướng hội nhập và toàn cầu hóa vé kinh tẺ, những thinh twa của sự phát triển kinh tế - xã hội, sự tăng cường mở rộng giao lưu, hợp tắc vé nhiều mặt với các nước, tiếp thu có chọn lọc tỉnh hoa văn hóa nhân loại; cùng với công cuộc cải cách hành chính hiện nay dang đặt ra như cầu chuyên biệt hóa trong sự điều chỉnh pháp luật ngày cảng rõ nét, đồi hỏi phải có sự thống nhất về nhận thức trong sự phân định các khái niệm có liên quan. Luật Cán bộ, công chức được Quốc hội ban hành tháng 1 năm 2008, có hiệu lực từ ngây 01/01/2010 đã quy định cụ thé: “Cin bộ là công din Việt Nam được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm, giữ chức vụ.
chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sin Việt Nam, Nhà nước, các tổ chức chỉnh trị - xã hội ở Trung ương, ở tinh, huyện trực thuộc Trung ương; & huyện, quận. thị xã, huyện trực thuộc tỉnh, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nud "Cần bộ 2, phường, thị trấn (sau đây gọi chung lä ấp xã) là công din Việt Nam, được blu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dan, Bí thư, Phó Bí thư Dang ủy, người đứng đầu tỏ chức chính trị - xã hi công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sich nhà nước "Như vậy, đến nay khái niệm cán bộ đã được quy định rõ rang, cụ thé, xác định rõ nội hàm, đô là những người giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm ky trong các cơ quan thuộc hệ thống chính tị Việt Nam từ Trung ương đến cp huyện, quận và tương đương. Tay góc độ và mục tiêu xem xét có thé phân biệt đội ngủ cán bộ thành các nhóm sau Xét về loại hình có thé phân thành: Cán bộ Đảng, đoàn thé, cán bộ Nhà nước, cán bộ kinh tế và quản lý kinh tế; cán bộ khoa học, kỹ thuật ‘Theo tính chất và chức năng nhiệm vụ có thể phân thành: nhóm chính khách, nhóm lãnh đạo quản lý; nhóm chuyên gia và nhóm công chức, viên chức. Theo cấp quan lý phân ra: Cần bộ cấp trung ương; cần bộ cấp tinh và thành phổ trực thuộc trung ương; cán bộ cấp huyện, thị, thành phổ thu c tỉnh; cán bộ cấp xã, phường, thị trấn, 1.
Khải niệm công chức Khái niệm công chức lần dẫu iên được nêu ra rong Sắc lệnh 76/ SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ban hành quy chế công chức. Theo quy chế này, công chức được hiểu li những công dân Việt Nam được chính quyển tuyén để giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan của Chính Phi, ở trong hay ngoài nước, trừ những trường hợp riêng biệt do Chính Phủ quy định. Như vậy, công chức. chủ yếu la những người làm việc trong bộ mây nhà nước ở trung ương.
Đội ngũ cần bộ đoàn thé, những người làm việc trong bộ máy chính quyền địa phương không phải tat ca đều là công chức, thuộc phạm vi điều chỉnh của sắc lệnh. Tuy nhiên, do hoàn cảnh chiến tranh nên quy chế công chức theo sắc lệnh này không được thực hiện đầy đủ và trong thực tẾ thời gian này người ta thường ding khái niệm cắn bộ để chỉ những người lâm việc trong biên chế nhà nước nói chung. Sau suốt một thời gian đải, khái niệm công chức ít được sử dung, thay vào đó là khái niệm cán bộ, công nhân viên chức Nhà nước; không phân biệt công chức, viên chức với công nhân. Thực hiện công cuộc đổi mới, tưới cầu khách quan của cách nén hành chính Nhà nước và đồi hỏi chuẳn hỏa đội ngũ cán bộ, công chức Nhà nước, thuật ngữ công chức lại được sử dụng trở lại.
Tại Nghị định số 169/IĐBT ngày 25/5/1991 của Hội đồng Bộ trưởng: tiếp đồ là Nghị định số 95/1998/NĐ-CP ngày 17/11/1998 của Chính phủ; Nghị định số 117/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ về uyễn dụng, sử dụng và quản lý cin bộ, công chức trong các cơ quan Nhà nước; khái niệm công chức được để cập một cách rõ rùng, cụ thé: xong vẫn chưa phân biệt công chức hành chính với công chức sự nghiệp. (Qua nhiễu lần sửa dt bỗ sung cho phù hợp với sự phát triển của kinh 1 xã hội và hội nhập quốc tế; Luật cán bộ, công chức được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII thông qua ngày 13/11/2008, có hiệu lực từ ngày 01/01/2010 quy định rõ: Công chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng, bố nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đáng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính tỉ - xã hội ở trung ương, ấp tinh, cắp huyện, trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phông: trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân sma không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ mấy lãnh đạo quản lý của đơn vì sự nghiệp công lập của Đăng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chúc chính tr xã hội (Sau đây gọi tit là đơn vị sự nghiệp công lập, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản. lý của đơn vi sự nghiệp công lập thi lương được bảo dim từ quỹ lương của đơn vị sợ nghiệp công lập theo quy định của pháp luật Tir những cách quan niệm vé công chức nêu trên, chúng ta có thể hiểu khái niệm công chức như sau: Công chức thường được hiểu một cách chung là những công dân, được tuyển dụng va bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở của Nhà nước ở trung ương hay địa phương, được xếp vào một ngạch và hưởng lương từ ngân xich Nhà nước; có nghĩa vp, bồn phận phục vụ nhân dân, phục vụ Nhà nước theo quy đình của pháp It, và chu sự điề chin của luật công chức. Trong hoạt động công vụ của Nhà nước, cỏ thé phân loại công chức theo các cách Khác nhau.
Theo đặc thù tinh chit công việc người ta thường phân công chức thành bốn loại: công chức lãnh đạo,công chức chu) gia, công chức chuyên môn, nghiệp vụ, công chức là nhân viên hành chính. Tuy nhiên, sự phân loại này chỉ có tính chất định tính, nhằm giúp cho việc xác định cơ cấu công chức trong việc quy hoạch mà chưa rõ trình độ, năng lực của công chức trong tùng loại khác nhau, do đó chưa đáp ‘ing được yêu cầu chuẩn hóa công chức. 6 nước ta hiện nay, phân loại công chức theo ngạch là phổ biến. Ngạch công chức là một khái niệm chỉ trình độ, năng lực, khả năng chuyên môn và ngành nghề của công chức, Mỗi ngạch thể hiện một cấp độ về trình độ chuyên môn nghiệp vụ và có tiêu chuẩn ng, bao gồm 5 lại “Công chức ngạch chuyên viên cao cấp và tương đương trở lên “Công chức ngạch chuyên viên chính và tương đương “Công chức ngạch chuyên viên và tương đương, “Công chức ngạch cần sự và tương đương “Công chức ngạch nhân viên và tương đương, 1.
Vai trà của đội ngữ cán bộ, công chức cấp huyện “Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng cần bộ, công chức là mắt xích quan trọng của bộ máy ‘Ding, Nhà nước, đoàn thé nhân dân. Họ là lực lượng lao động nòng cốt có vai trò cực kỳ quan trong trong quản lý và tổ chúc công việc của Nhà nước. Nhiệm vụ của họ là thực thi công vụ, thực thi pháp luật, thực thi quyền lực Nhà nước, Đẳng thời chính ho đồng vai trò sáng tạo pháp luật, tham mưu, để xuất, xây đựnghệ thống pháp luật hoàn chỉnh va tiến bộ của Nhà nước, Qui trình đổi mới đất nước do Dang ta khởi xướng và lãnh đạo, cổ sự tham gia của nhiều chủ thể xã hội, trong đồ có nền công vụ. Nén công vụ đóng vai rồ chủ yếu trong việc tổ chức thực hiện các Nghị quyết của Đảng bằng việc th chế hóa các Nghị quyết của Đảng thinh pháp luật và thực thi trong xã hội, qua đó giáp Ding đánh giá và điều chinh các chủ trương, đường lối cho phi hợp với thực tiễn.
Ngoài ra là một bộ phận quan trong của nguồn nhân lực trong nên công vụ, những cán bộ, công chức, đảng đã trực tip tham gia đồng gp vào quả tình xây đựng các chữ trương, chính sich của Đảng qua việc xây dụng dự thảo, đề án, hoặc góp ý kiến, chỉnh sửa dự thảo Là người làm việc trong các cơ quan hành chính của Ủy ban nhân dân và các phòng. ban ở huyện nên cần bộ, công chức hành chính có vị tí quan trong, là cầu nỗi giãn Đăng, Cl h phủ vả nhân dân. công chức là nhân tổ chủ yéu, hàng đầu và là nhân tổ “độn” nhất của tổ chức, song đến lượt mình, cắn b công chức lại chịu sự chi phối, rang buộc của tổ chức. Tổ chứ buộc cán bộ, công chức phải hành động theo những nguyên tắc và khuôn khổ nhất định.
Tổ chức bộ may khoa học, hop lý sẽ nhân sức mạnh của cén bộ, công chức lên gap đôi. Cán bộ, công chức chỉ có sức mạnh khi gắn với tổ chức và nhân dân.