Chương 1. Cơ sở lý luận về bình đẳng giới về thu nhập và tổng quan nghiên cứu Chương này giải thích một số khái niệm, thuật ngữ liên quan đến bình đẳng giới như: giới, giới tính, vai trò giới, định kiến giới, hậu quả của định kiến giới, phân biệt đối xử giới, bình đẳng giới, vấn đề giới, khoảng cách giới, mục tiêu bình đẳng giới, phân tích giới và bình đẳng giới trong thu nhập; các khía cạnh của bình đẳng giới; các thước đo đánh giá bình đẳng giới; nêu ra một số yếu tố ảnh hưởng đến bình đẳng giới về thu nhập. Chương này còn nêu ra một số luật pháp, chính sách và quy định quốc tế về tiền lương/ thu nhập; và một số nghiên cứu trước về bình đẳng giới về thu nhập trong và ngoài nước. Thực trạng bình đẳng giới về thu nhập ở Việt Nam giai đoạn 2012-2014 Chương này trình bày thực trạng về: - Luật pháp, chính sách và quy định của Việt Nam về tiền lương/ thu nhập bao gồm: Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Bộ Luật lao động năm 2012, Luật Bình đẳng giới, Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020.
- Thực trạng bình đẳng giới trong thị trường lao động Việt Nam giai đoạn 2012-2014 bao gồm: Sự tham gia của phụ nữ và nam giới trong thị trường lao động giai đoạn 2012-2014; Trình độ chuyên môn kỹ thuật của lực lượng lao động; Tình hình việc làm; Thất nghiệp và thiếu việc làm. - Xếp hạng về bình đẳng giới của Việt Nam: thông qua chỉ số khoảng cách giới (GGI) và chỉ số bất bình đẳng giới (GII). Theo kết quả xếp hạng của Diễn đàn kinh tế thế giới năm 2014, GGI của Việt Nam đạt 0,6915 điểm1, xếp hạng 76 trên tổng số 142 quốc gia tham gia xếp hạng. Theo xếp hạng theo các chỉ số thành phần của chỉ số bất bình đẳng giới (GII), Việt Nam xếp thứ hạng khá cao về bình đẳng 1 Điểm từ 0 đến 1, đạt điểm cao nhất là 1 thể hiện mức độ bình đẳng giới tốt nhất.
v giới trong lĩnh vực kinh tế, xếp hạng 41/142 quốc gia (đạt 0,726 điểm); lĩnh vực sức khỏe và sự sống còn, xếp hạng 87/142 (đạt 0,944 điểm); trong lĩnh vực chính trị xếp hạng 87/142 (đạt 0,124 điểm); trong lĩnh vực giáo dục, xếp hạng 97/142 (đạt 0,972 điểm). - Thực trạng bình đẳng giới về thu nhập qua số liệu thống kê quốc gia: phần này đưa ra cái nhìn tổng quan về thực trạng bình đẳng giới về thu nhập ở Việt Nam giai đoạn 2012 – 2014 thông qua việc tính toán mức chênh lệch tuyệt đối giữa nam và nữ theo dữ liệu điều tra lao động - việc làm. Luận văn phân tích thực trạng thu nhập bình quân tháng của nữ và nam theo thành thị - nông thôn, trình độ CMKT, nhóm tuổi, nghề nghiệp, 3 nhóm ngành kinh tế chính, khu vực kinh tế, vùng kinh tế,… Thu nhập bình quân của nữ luôn thấp hơn nam trong giai đoạn 2012-2014. Mức chênh lệch thu nhập giữa nữ và nam có xu hướng ngày càng thu hẹp trong giai đoạn này.
Sự khác biệt về thu nhập theo giới tính là kế t quả của những khác biê ̣t giữa lao đô ̣ng nữ và lao động nam về trình độ học vấn , trình độ chuyên môn kỹ thuật , ngành nghề , lĩnh vực làm việc , vị thế việc làm ,… và một số đinh ̣ kiế n giới còn tồn tại trong lĩnh vực lao đô ̣ng. Kiểm chứng định lượng về các nhân tố ảnh hưởng đến bình đẳng giới về thu nhập ở Việt Nam giai đoạn 2012-2014 Chương này sẽ xây dựng và ước lượng các mô hình phân tích sự khác biệt thu nhập giữa phụ nữ và nam giới. Kết quả phân rã Oaxaca chỉ ra rằng khoảng cách thu nhập theo giới chủ yếu là do sự phân khúc về thị trường lao động. Các yếu tố như kinh nghiệm, thành thị- nông thôn, trình độ học vấn, ngành kinh tế, nghề kinh tế có xu hướng tạo ra công bằng giữa nam và nữ, do vậy nhóm các yếu tố quan sát được (E) đã làm giảm khoảng cách thu nhập.
Tuy nhiên do vẫn tồn tại sự định kiến về giới, nhận thức về vai trò giới và giới tính còn hạn chế cũng như ảnh hưởng của các yếu tố không quan sát được khác (C) làm gia tăng khoảng cách thu nhập giữa nam và nữ mặc dù họ có những đặc điểm nguồn lực tương đồng với nam giới nên thu nhập bình quân của lao động nam cao hơn. Kết quả ước lượng cũng chỉ ra dấu hiệu tốt đối với những người vi có trình độ, người có trình độ càng cao thì được trả lương càng lớn và sự bất bình đẳng của xã hội trong thu nhập đối vời người lao động nam và nữ có trình độ cũng có xu hướng được thu hẹp. Nếu chỉ xét trên khía cạnh nguồn lực, nữ giới có ưu thế hơn nam giới về thu nhập. Khi nam giới và nữ giới có những đặc điểm tương đồng về nguồn lực, khi không có định kiến xã hội, nữ giới có cơ hội được thu nhập cao hơn nam giới.
Tuy nhiên, do định kiến xã hội quá lớn, nên khi xét đến tác động của tất cả các yếu tố đến khoảng cách thu nhập, người phụ nữ vẫn bị chịu thiệt thòi trên thị trường lao động. Lao động nữ dù có đặc điểm về nguồn lực tốt hơn nam giới thì họ vẫn có thu nhập thấp hơn nam giới. Các yếu tố làm giảm khoảng cách thu nhập theo giới bao gồm: số năm kinh nghiệm, khu vực thành thị-nông thôn, trình độ học vấn, ngành kinh tế, nghề kinh tế. Các yếu tố làm gia tăng khoảng cách thu nhập theo giới là dân tộc, di cư.
và các yếu tố không quan sát được như định kiến giới, hạn chế về nhận thức về giới, giới tính của xã hội. Kết luận và khuyến nghị Phần này đưa ra những kết luận chính trong luận văn và đề xuất các chính sách đề làm giảm khoảng cách thu nhập giữa nữ và nam, nhằm đảm bảo bình đẳng giới về thu nhập trên thị trường lao động quốc gia. Các kết luận thu đƣợc Trên cơ sở phân tích thực trạng khoảng cách thu nhập theo giới qua số liệu điều tra thống kê quốc gia, qua việc ứng dụng mô hình phân rã thu nhập Blinder- Oaxaca và kiểm chứng có thể đi đến một số kết luận dưới đây về khoảng cách thu nhập theo giới ở Việt Nam, cụ thể: Thứ nhất, Việt Nam đã có hệ thống luật pháp, chính sách, quy định về lao động việc làm và trả công bình đẳng khá toàn diện và ưu việt, tuy nhiên chính sách vẫn có những tác động tiêu cực nhất định tạo ra khoảng cách thu nhập theo giới. Bên cạnh đó, việc triển khai chính sách trên thực tế còn nhiều hạn chế, bất cập, chính sách chưa bao phủ được thị trường lao động phi chính thức,… nên hiệu quả chính sách còn vii hạn chế, đồng thời còn gián tiếp tác động đến gia tăng khoảng cách thu nhập theo giới.
Thứ hai, Tổng quan các nghiên cứu và kết quả nghiên cứu định lượng đều cho thấy, những quan niệm, định kiến giới vẫn đóng góp lớn vào việc gia tăng khoảng cách thu nhập theo giới. Quan điểm “trọng nam khinh nữ” dẫn đến hạn chế các cơ hội học tập, đào tạo, tuyển dụng và sử dụng lao động nữ, hạn chế khả năng tiếp cận với việc làm có thu nhập tốt của lao động nữ,…, do đó ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự gia tăng khoảng cách thu nhập theo giới. Thứ ba, Kết quả phân rã Oaxaca chỉ ra rằng khoảng cách thu nhập theo giới chủ yếu là do sự phân khúc về thị trường lao động. Các yếu tố như kinh nghiệm, thành thị-nông thôn, trình độ học vấn, ngành kinh tế, nghề kinh tế có xu hướng tạo ra công bằng giữa nam và nữ, do vậy nhóm các yếu tố quan sát được (E) đã làm giảm khoảng cách thu nhập.
Tuy nhiên do vẫn tồn tại sự định kiến về giới, nhận thức về vai trò giới và giới tính còn hạn chế cũng như ảnh hưởng của các yếu tố không quan sát được khác (C) làm gia tăng khoảng cách thu nhập giữa nam và nữ mặc dù họ có những đặc điểm nguồn lực tương đồng với nam giới nên thu nhập bình quân của lao động nam cao hơn. Kết quả ước lượng cũng chỉ ra dấu hiệu tốt đối với những người có trình độ, người có trình độ càng cao thì được trả lương càng lớn và sự bất bình đẳng của xã hội trong thu nhập đối vời người lao động nam và nữ có trình độ cũng có xu hướng được thu hẹp. Nếu chỉ xét trên khía cạnh nguồn lực, nữ giới có ưu thế hơn nam giới về thu nhập. Khi nam giới và nữ giới có những đặc điểm tương đồng về nguồn lực, khi không có định kiến xã hội, nữ giới có cơ hội được thu nhập cao hơn nam giới.
Tuy nhiên, do định kiến xã hội quá lớn, nên khi xét đến tác động của tất cả các yếu tố đến khoảng cách thu nhập, người phụ nữ vẫn bị chịu thiệt thòi trên thị trường lao động. Lao động nữ dù có đặc điểm về nguồn lực tốt hơn nam giới thì họ vẫn có thu nhập thấp hơn nam giới. Thứ tư, Kết quả nghiên cứu một lần nữa khẳng định những quan niệm truyền thống và những định kiến xã hội đối với phụ nữ đã hạn chế các cơ hội để phụ nữ viii tiếp cận giáo dục và đào tạo, lựa chọn ngành nghề, khu vực làm việc. Sự phân công lao động theo giới trong các ngành nghề khác nhau và sự sắp xếp lao động, vị trí công việc trong cùng một ngành nghề lĩnh vực cũng có những khác biệt rõ rệt làm ảnh hưởng lớn đến sự chênh lệch trong thu nhập.
Dựa trên kết quả nghiên cứu định tính cũng như định lượng, đề tài xin đưa ra một số khuyến nghị về chính sách như sau: Nhóm chính sách làm tăng cơ hội tiếp cận nguồn lực cho phụ nữ Thứ nhất, Cơ quan chức năng cần tăng cường công tác tuyên truyền chính sách pháp luật về lao động, bình đẳng giới cho các chủ doanh nghiệp và người lao động để họ nghiêm túc thực hiện các quy định của pháp luật. Đồng thời cần tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định đối với lao động nữ để đảm bảo thực thi quyền của lao động nữ tại nơi làm việc. Các phân biệt đối xử đối với lao động nữ vì lý do thai sản hoặc tình trạng hôn nhân cần xử phạt theo pháp luật. Thứ hai, Đầu tư chuyển đổi cơ cấu ngành nghề cần chú ý tới cơ cấu lao động theo giới hợp lý.