Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu và một số đề xuất LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦ A VẤN ĐỀ NGHIÊN CƢ́U 1. Khái quát lịch sử vấn đề nghiên cƣ́u Lo âu là cảm xúc thường gặp nhất của con người với nhiều mức độ khác nhau. Sự trải nghiệm cảm xúc này hầu hết là do đáp ứng với các kích thích của môi trường, và thường chỉ là những biểu hiện nhất thời. Tuy nhiên cũng có nhiều người khi đối mặt với khó khăn, nguy hiểm, áp lực của cuộc sống, lo âu quá mức trở thành rối loạn lo âu (RLLA) trong bệnh lý tâm thần.
Bàn về RLLA, hiện nay có khá nhiều công trình nghiên cứu theo nhiều hướng khác nhau. * Các nghiên cứu về RLLA theo hướng bàn luận về sự ra đời của thuật ngữ lo âu: Năm 1844, Soren Kierkegaard đã xuất bản tác phẩm “Angest“ và được dịch sang tiếng Pháp “Le concept de l’angoisse“ nói về trạng thái lo âu. Tác phẩm này của ông được xem như một sự phân tích tâm bệnh lý hiện đại đầu tiên về hiện tượng lo âu. Năm 1895, Freud là người đầu tiên nhấn mạnh đến tầm quan trọng của lo âu trong những hội chứng đã được mô tả trước đó như hysteria, nghi bệnh, suy nhược thần kinh.
Freud đã sử dụng lo âu như một chẩn đoán riêng biệt, ông nói: tôi gọi các hội chứng này là lo âu tâm căn bởi vì tất cả những thành phần của nó có thể nhóm lại thành những triệu chứng chính của lo âu’’. Từ năm 1980, theo bảng phân loại bệnh tâm thần của Hoa Kỳ thì chẩn đoán RLLA đã được đưa vào DSM-III và được dùng chính thức cho đến ngày nay. Đến DSM-IV, các tác giả đã phân biệt rạch ròi giữa hai khái niệm lo âu và RLLA. Theo bảng phân loại này lo âu được định nghĩa như sau: lo âu là một trạng thái cảm xúc thông thường, đó là một cảm xúc khó chịu không xác LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com định được.
Còn RLLA thì không phải như vậy vì RLLA là một trạng thái bất thường hay kết hợp với một số triệu chứng cơ thể và RLLA có ảnh hưởng đến các chức năng nghề nghiệp, xã hội do lo âu gây ra. Năm 1968, Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization - WHO) đã soạn thảo Bảng Phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 8, (International Classification of Diseases, 8th edition - ICD-8), theo đó tâm căn lo âu được xếp vào mục 300. Năm 1978, ICD-9 đổi tâm căn lo âu thành trạng thái lo âu và cũng xếp ở mục 300. Vì chưa thống nhất được các quan điểm trong bệnh nguyên, bệnh sinh của rối loạn lo âu nên các mục này đều không có tiêu chuẩn chẩn đoán cụ thể.
Năm 1988, ICD-10 được soạn thảo với nội dung có nhiều điểm tương đồng với DSM III. Năm 1992, ICD-10 được WHO công bố và áp dụng chính thức trên toàn thế giới đến nay. Trong Bảng Phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 (ICD 10), các rối loạn lo âu được mô tả ở chương F4: “Các rối loạn tâm căn có liên quan đến stress và dạng cơ thể” từ F40 - F41. Trong tài liệu này, các nhà khoa học không đưa ra một khái niệm cụ thể về RLLA mà trực tiếp đưa ra các biểu hiện của các dạng RLLA và các nguyên tắc chỉ đạo trong chẩn đoán.
* Các nghiên cứu về nguyên nhân của RLLA theo các trường phái tâm lý học. Việc tìm ra gốc rễ của các RLLA cũng sẽ giúp cho việc trị liệu của các nhà tâm lý học đạt hiệu quả cao. Chính vì thế, một số các nhà tâm lý học theo các trường phái tâm lý học khác nhau cũng tiến hành nghiên cứu tìm hiểu những nguyên nhân của các RLLA để từ đó xây dựng mô hình trị liệu phù hợp. Trong phạm vi nghiên cứu này, chúng tôi trình bày một số học thuyết nổi tiếng và phổ biến bàn về nguyên nhân của các RLLA: + Thuyết phân tâm: Lo âu là một tín hiệu khuấy động bản ngã thực hiện hành động phòng vệ chống lại những áp lực từ bên trong.
Một cách lý tưởng, sự dồn nén thành công tạo nên sự cân bằng tâm lý mà không có triệu chứng. Học thuyết phân tâm học kinh điển mô tả RLLA như là kết quả của những xung LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đột trong vô thức. Đầu tiên, Freud đã dùng thuật ngữ “Angst“ có nghĩa là sợ hãi để mô tả những phản ứng nội tâm đơn giản đối với những mối đe dọa bên trong và bên ngoài. Trong thuyết đầu tiên về lo âu, Freud đã cho rằng những xung đột và những ức chế tạo ra sự thất bại trong việc kiểm soát các xung động tình dục.
Việc kìm hãm các xung động cùng với việc sợ mất kiểm soát xung động sẽ gây ra lo âu. Sau đó, chính Freud đã sớm nhận ra hạn chế trong học thuyết ban đầu của mình, ông đã gợi ý rằng lo âu là triệu chứng chính, đóng vai trò trung tâm trong các bệnh tâm căn. Ông thừa nhận rằng lo âu chính là sự chuyển dạng của các xung động tình dục và đã chấp nhận lo âu là kết quả của sự đe dọa. + Thuyết tập nhiễm xã hội: Gia đình là môi trường xây dựng nên các cảm xúc, sự hiểu biết và sự an toàn cho trẻ.
Môi trường này có ảnh hưởng sâu sắc đến thế giới quan và khả năng đương đầu với những vấn đề trong cuộc sống của con người. Thuyết tập nhiễm xã hội cả Bandura năm 1969 cho thấy vai trò quan trọng của nhận thức trong việc hình thành lo âu. Lo âu có thể được tập nhiễm từ người chăm sóc hoặc từ những người khác trong gia đình hoặc môi trường sống của đứa trẻ (thông qua bắt chước, lây lan, cách giải thích, lý giải các sự kiện. Như vậy, hành vi của cha mẹ là yếu tố quan trọng hình thành và phát triển lo âu ở trẻ.
+ Thuyết nhận thức: Những yếu tố nhận thức, đặc biệt là cách mà một người giải thích hoặc suy nghĩ về các sự kiện stress đóng một vai trò quan trọng trọng bệnh nguyên của RLLA. Theo quan điểm của Beck thì những trạng thái cảm xúc bất thường như trầm cảm, lo âu là Khi có một kích thích tác động lên nhận thức thì dẫn đến một đáp ứng. Thông thường khi gặp phải một tình huống gây lo sợ thì nhận thức bị bóp méo sự ước lượng của chúng về những kích thích gây lo âu. Sự ước lượng này chứa đựng những kinh nghiệm, niềm tin sai lệch về chính bản thân mình, về thế giới và về tương lai.
Khi gặp phải một kích thích tương tự sẽ so sánh nó với những tình huống xảy ra trong quá LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khứ và cho ra phản ứng. Vì vậy, RLLA là do những niềm tin sai lệch mà bệnh nhân suy diễn những sự kiện xảy ra thành những sự kiện đe dọa hoặc nguy hiểm quá mức. Những hệ thống niềm tin cơ bản này, hoặc những sơ đồ tạo ra những suy nghĩ tự động để phản ứng lại với những tín hiệu bên ngoài hoặc bên trong từ đó gây ra lo âu. Như vậy, RLLA là do xử lý thông tin không đúng.
Theo Barlow và cộng sự (1996), một trong những biểu hiện nhận thức rõ ràng nhất của lo âu đó là cảm giác không thể kiểm soát được, nó biểu hiện bằng mọi cảm giác không được giúp đỡ, không nơi nương tựa do mất khả năng tiên đoán, kiểm soát và đạt được những kết quả mong muốn [10,12]. + Thuyết về nhân cách: Một số RLLA liên quan đến nhân cách lo âu, tránh né. Đó là nhân cách có các đặc điểm: lo lắng trước đám đông, sợ không được chấp nhận, bi quan lo lắng, bị bối rối, thận trọng trước những trải nghiệm mới, rụt rè, thiếu tự tin, ít bạn bè, né tránh các tình huống xã hội. * Tiếp cận về rối loạn lo âu theo hướng nghiên cứu dịch tễ học: Lo âu là một vấn đề sức khỏe mang tính dịch tễ, vì thế nhiều nhà tâm lý học cũng đi vào nghiên cứu về nó theo hướng dịch tễ học.
Shelton các RLLA thường gặp nhất trong các bệnh lý tâm thần, có thể ảnh hưởng đến 15% dân số ở bất kỳ thời điểm nào. Rối loạn lo âu ám sợ có tỷ lệ là 8 - 10%, RLLA lan tỏa chiếm 5%, rối loạn hoảng sợ chiếm 1 - 3% trong dân số [42]. Theo nghiên cứu của Rieger và cộng sự (1990) có khoảng 15% dân số nói chung, trong cuộc đời đã trải nghiệm các triệu chứng mang đặc trưng đủ của RLLA và 2,3 - 8,1% có RLLA hiện hữu.A Brown cho biết cộng đồng Newzealand rối loạn lo âu lan tỏa rất thường gặp, chiếm 75% các trường hợp đến khám bệnh tại các phòng khám tâm thần, lứa tuổi khởi phát là từ 20 - 40 tuổi, tỷ lệ RLLA giữa nam và nữ là tương đương. Theo Viện Sức khỏe tâm thần Quốc gia Hoa Kỳ, RLLA là rối loạn thường gặp nhất, hàng năm có 19 triệu người Mỹ mắc các rối loạn lo âu [21].
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ở Việt Nam, số liệu về các RLLA trong cộng đồng và trong các rối loạn sức khỏe tâm thần với quy mô rộng lớn còn rất hạn chế, đặc biệt trong tâm lý học thì rất ít các nghiên cứu chuyên sâu về RLLA. Lo âu vẫn chỉ nhắc đến trong các rối loạn tâm lý khác như là một biểu hiện của rối loạn cảm xúc. Từ năm 1964 đến nay, ở Việt Nam đã có một số công trình điều tra cơ bản về bệnh tâm thần và thu được một số kết quả. Song do phương pháp, công cụ và đặc biệt là tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh tâm thần ở mỗi thời kỳ có khác nhau nên tỷ lệ một số rối loạn tâm thần có thay đổi.
Năm 1999, Chính phủ đưa vào Chương trình mục tiêu Quốc gia Dự án Bảo vệ sức khoẻ tâm thần cộng đồng, đặt ra cho ngành tâm thần Việt Nam một thách thức mới, một trách nhiệm hết sức nặng nề. Để có được số liệu các rối loạn tâm thần trong cả nước và xây dựng kế hoạch Bảo vệ sức khoẻ tâm thần cho nhân dân, ngành tâm thần chọn 10 bệnh tâm thần ưu tiên để tiến hành điều tra dịch tễ tại các vùng khác nhau. Trên cơ sở những kết qủa thu được sẽ giúp cho ngành tâm thần đề ra được các biện pháp chăm sóc, giúp đỡ, điều trị thích hợp, phòng bệnh cho các bệnh nhân có rối loạn tâm thần nặng tại cộng đồng.