CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƯỜNG MẦM NON TỈNH BÌNH PHƯỚC 1. Một số khái niệm cơ bản có liên quan trực tiếp đến đề tài 1. Khái niệm chung về quản lý Quản lý là một hoạt động được hình thành từ khi xã hội loài người có sự phân công lao động, con người có sự hợp tác với nhau hoặc cùng nhau hoạt động với những mục đích chung nào đó. Quản lý rất cần thiết cho tất cả mọi lĩnh vực hoạt động đời sống của con người.
Ở đâu con người tạo lập nên nhóm xã hội là ở đó cần đến quản lý, dù đó là nhóm nhỏ, nhóm lớn, nhóm chính thức, nhóm không chính thức và bất kể nội dung hoạt động nhóm đó là gì. Có thể nói quản lý là một thuộc tính gắn liền với xã hội ở mọi giai đoạn phát triển của nó. Marx đã nói "Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung, tiến hành trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiều cũng cần đến sự chỉ đạo những hoạt động của cá nhân, nhằm điều hòa các hoạt động đó và thực hiện các chức năng chung (.) Một nhạc sĩ độc tấu vĩ cầm thì tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần nhạc trưởng " (17, tr 5) Điều đó cho thấy rằng hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công hợp tác lao động của xã hội loài người, nhằm đạt mục đích nhất định. Đây chính là hoạt động giúp cho người đứng đầu tổ chức phối hợp sự nỗ lực của các thành viên trong nhóm, trong cộng đồng để đạt mục tiêu đề ra.
Hoạt động quản lý còn là hoạt động lao động để điều khiển lao động, một loại lao động có ý nghĩa tất yếu và vĩnh hằng với chức năng điều khiển mọi hoạt động xã hội về kinh tế, quân sự, chính trị, xã hội, văn hóa, giáo dục. Trong quá trình xây dựng lý luận và thực hành quản lý, các nhà nghiên cứu thường gắn các loại hình quản lý cụ thể hoặc phụ thuộc nhiều vào lĩnh vực hoạt động hay nghiên cứu của mình như sau: • Theo quan niệm của các nhà nghiên cứu nước ngoài: - W.Taylor, người đầu tiên nghiên cứu quá trình lao động đã nêu : 15 "Quản lý là một nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm như thế nào để đạt hiệu quả tốt nhất và rẻ nhất" (23) - H. Koonts "Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nhằm đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực cá nhân để đạt được những mục đích của nhóm. Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được những mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất" (36) - Nhà lý luận quản lý kinh tế người Pháp H.Fayon:"Quản lý hành chính là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức điều khiển, phối hợp và kiểm tra "(20) • Theo quan niệm của các nhà nghiên cứu Việt Nam: - "Quản lý là thực hiện hai quá trình liên hệ chặt chẽ với nhau: Quản và lý.
Đó là hoạt động chăm sóc, giữ gìn (quản) và sửa sang, sắp xếp (lý) để cho cộng đồng theo sự phân công hợp tác lao động được ổn định và phát triển "(15) - "Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, là một hệ thống, là quá trình tác động đến hệ thống, nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Những mục tiêu này đặc trứng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn" (21) - "Quản lý là một hoạt động cần thiết khi con người kết hợp với nhau trong các tổ chức, nhằm đạt những mục tiêu chung. Như vậy hoạt động quản lý là hoạt động chỉ phát sinh khi con người kết hợp với nhau thành một tập thể "(19) - "Quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức "(27) - Theo Tự điển Tiếng Việt "Quản lý là hoạt động của con người tác động vào tập thể người khác để phối hợp, điều chỉnh, phân công thực hiện mục tiêu chung " (34) Tuy có nhiều cách định nghĩa khác nhau nhưng có thể hiểu : • Quản lý là một loại lao động để điều khiển lao động. • Quản lý là một hệ thống xã hội trên nhiều phương diện (quản lý hành chính, quản lý văn hóa, quản lý sản xuất.) • Quản lý là một nghệ thuật tác động vào một hệ thống.
16 • Quản lý là một tổ hợp phương pháp tạo nên vận hành của hệ nhằm thực hiện các mục tiêu. • Quản lý tồn tại với tư cách là một hệ thống gồm hai phân hệ chủ thể quản lý và khách thể quản lý. • Đối tượng quản lý chủ yếu vẫn là con người. Bản chất của hoạt động quản lý: - Từ khi con người biết hợp tác với nhau để tự vệ và mưu sinh thì nó xuất hiện những yếu tố khách quan, những hoạt động tổ chức, phối hợp, điều hành.
để thực hiện mục tiêu. Sự phối hợp này tạo nên sức mạnh giúp con người đạt được những mục tiêu cần thiết. Như vậy, trong quá trình vận động, phát triển xã hội và quản lý không thể tách rời nhau, khi lao động đạt tới một trình độ nhất định, có sự phân công xã hội thì quản lý như là một chức năng, đó là tất yếu khách quan. - Trong một tổ chức, nhóm, cộng đồng, chủ thể quản lý tác động có định hướng, có chủ đích đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục đích.
Những tác động qua lại đó có tác động lan tỏa rộng rãi. Trong xã hội có giai cấp thì hoạt động quản lý phục vụ quyền lợi của giai cấp. Do vậy, hoạt động quản lý mang tính giai cấp rõ rệt. - Hoạt động quản lý mang tính khoa học cao, bởi sự tác động giữa chủ thể quản lý đến khách thể quản lý thông qua công cụ, phương tiện, phương pháp phải phù hợp với quy luật khách quan thì mới đạt được hiệu quả.
- Quản lý được coi là một nghề. Những kỹ năng nghề nghiệp của người quản lý để thực hiện công việc đòi hỏi phải mang tính kỹ thuật, thể hiện ở những thao tác nghề nghiệp của người quản lý. Vậy, "Hoạt động quản lý vừa có tính khách quan, vừa có tính chủ quan vì được thực hiện bởi người quản lý. Mặt khác, nó vừa có tính giai cấp lại vừa có tính kỹ thuật, vừa có tính khoa học lại vừa có tính nghệ thuật, vừa có tính pháp luật Nhà nước lại vừa có tính xã hội rộng rãi.
Chúng là những mặt đối lập trong một thể thống nhất. Đó là biện chứng, là bản chất của hoạt động quản lý" (32, tr 62) b. Chức năng quản lý 17 Hoạt động quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các chức năng quản lý. Chức năng quản lý là các dạng hoạt động tương đối độc lập được tách rời ra từ hoạt động quản lý.
Có nhiều quan điểm khác nhau về việc phân chia các chức năng quản lý, nhưng có thể hiểu chức năng quản lý là một dạng hoạt động quản lý đặc biệt, thông qua đó chủ thể quản lý tác động vào khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu xác định (18, tr 7) Chức năng quản lý giáo dục nói chung và quản lý giáo dục mầm non nói riêng thành 2 loại: chức năng chung và chức năng cụ thể. • Chức năng chung (còn gọi là chức năng tổng quát) gồm 2 chức năng: - Chức năng duy trì, ổn định mọi hoạt động giáo dục mầm non đáp ứng nhu cầu hiện hành của nền kinh tế - xã hội. - Chức năng đổi mới phát triển (còn gọi là chức năng sáng tạo). Đó là những tác động nhằm biến đổi đối tượng, đưa đối tượng đến một trình độ phát triển mới về chất.
• Chức năng cụ thể: từ hai chức năng tổng quát trên, quản lý GDMN nói chung và quản lý trường mầm non nói riêng phải thực hiện 4 chức năng cụ thể sau đây: 1. Chức năng kế hoạch hóa: Kế hoạch hóa là tổ chức và lãnh đạo công việc theo một kế hoạch. Thực hiện chức năng kế hoạch hóa là đưa mọi hoạt động giáo dục vào công tác kế hoạch với mục tiêu cụ thể, biện pháp rõ ràng, xác định các điều kiện tương ứng cho việc thực hiện mục tiêu. Trong chu trình quản lý, kế hoạch hóa là giai đoạn khởi đầu quan trọng nhất, kết quả của nó tạo nên nội dung cơ bản của chu trình quản lý.
Đó cũng là mô hình dự báo kết quả và chương trình hành động của nhà trường, của đơn vị trong suốt thời kỳ thực hiện kế hoạch. Để thực hiện tốt chức năng kế hoạch hóa, CBQLGD phải nhận thức được cơ hội và nắm bắt đầy đủ thông tin làm căn cứ cho việc xây dựng kế hoạch; xác định mục tiêu và phân loại mục tiêu; xác định các điều kiện nội lực và ngoại lực; tìm phương án và giải pháp thực hiện, lựa chọn phương án tối ưu; lập kế hoạch. Quá trình lập kế hoạch diễn ra theo các bước: Bước 1: Soạn thảo kế hoạch. Bước 2: Duyệt nội bộ (dân chủ hoa kế hoạch).
18 Bước 3: Trình duyệt cấp trên. Bước 4: Chính thức hoa kế hoạch (phổ biến kế hoạch chính thức đến những người thực hiện). Chức năng tổ chức: Tổ chức là sắp đặt con người, công việc một cách khoa học, hợp lý để mỗi người đều thấy hài lòng và hào hứng làm việc. Đó là sự phối hợp các tác động thành phần tạo nên tác động tích hợp mà hiệu quả của nó lớn hơn nhiều so với tổng số các hiệu quả của các tác động thành phần.
Trong một chu trình quản lý, tổ chức là giai đoạn hiện thực hóa những ý tưởng đã được kế hoạch hóa, để từng bước đưa nhà trường đạt tới mục tiêu mong muốn. Chức năng tổ chức trong quản lý giáo dục bao gồm các nội dung hoạt động như sau: - Xây dựng cơ cấu tổ chức bộ máy. - Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cho từng bộ phận và cá nhân. - Lựa chọn, phân công cán bộ.
- Tiếp nhận và phân phối các nguồn lực theo cấu trúc bộ máy. - Xác lập cơ chế phối hợp trong tổ chức. - Khai thác tiềm năng, tiềm lực của tập thể và cá nhân.