CHƯƠNG I: MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NGUỒN VỐN TRONG DOANH NGHIỆP.1 Một số vấn đề về vốn kinh doanh của doanh nghiệp 1. Các khái niệm về vốn Vốn theo khái niệm mở rộng không chỉ là tiền mà còn là nguồn lực như lao động, đất đai,trí tuệ…. Từ trước đến nay có rất nhiều quan niện về vốn khác nhau của các trường phái kinh tế và các nhà kinh tế. Theo các nhà kinh tế cổ điển thì vốn là một trong những yếu tố đầu vào của sản xuất kinh doanh theo quan niệm này thì vốn là một cái gì đó ban đầu để giúp cho quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra được.
Khái niệm này đơn giản , dễ hiểu. Tuy nhiên còn nhiều hạn chế là chưa nói lên được phần vốn tài chính , đây là một nội dung cơ bản của doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế thị trường. Theo quan niệm của các nhà tài chính thì vốn là tổng số tiền của những người có cổ phần trong công ty góp vào. Theo quan điểm này thì nêu được nguồn gốc vốn của doanh nghiệp.
Tuy nhiên theo quam điểm này thì không nêu lên được trạng thái của vốn cũng như quá trình sử dụng vốn trong doanh nghiệp do vậy có thể nó làm giảm vai trò và ý nghĩa cuả vốn trong công tác quản lý. Trong kinh tế học thì vốn hiện vật là dự trữ các hàng hoá đã sản xuất mà sử dụng để sản xuất ra các hàng hoá khác và dịch vụ khác ngoài ra còn có vốn tài chính, đồng thời cũng phân biệt vốn đất đai và vốn lao động theo quan niệm này thì vốn gồm hai loại là vốn tài chính và vốn vật chất. Đồng thời vốn là một loại hàng hoá nhưng tiếp tục được sử dung vào trong quá trình kinh doanh tiếp theo. Theo quan điểm này thì ta thấy rõ được nguồn gốc hình 4 thành của vốn và trạng thái biểu hiện của vốn ,nhưng hạn chế của quan điểm này là chưa cho ta thấy mục đích sử dụng của vốn.
Hiểu theo nghĩa rộng một số quan điểm cho rằng vốn gồm toàn bộ các yếu tố kinh tế được bố trí để sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ như tài sản hữu hình, tài sản vô hình các kiến thức về kinh tế của doanh nghiệp tích luỹ sử khéo léo về trình độ quản lý và tác nghiệp của cán bộ điều hành cùng chất lượng đội ngũ công nhân trong doanh nghiệp các lợi thế về cạch tranh như vị trí của doanh nghiệp ,uy tín của doanh nghiệp ….Quan điểm này có ý nghĩa quan trọng trong việc khai thác đầy đủ hiệu quả của vốn trong cơ chế thị trường .Tuy nhiên xác định vốn theo quan điểm này là rất khó khăn và phức tạpnhất là khi trình độ quản lý ở nước ta còn chưa cao và khung luật pháp chưa hoàn chỉnh. Theo các quan điểm về vốn ở trên thì ta thấy rằng mỗi quan điểm đều có những điểm nêu lên được và chưa được về vốn .Chính vì vậy ta thấy rằng khái niệm về vốn phải nêu lên được 4 vấn đề cơ bản sau: Nguồn gốc sâu xa của vốn kinh doanh và một bộ phận của nền kinh tế, là một trong các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất Trạng thái của vốn tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh điều này rất có ý nghĩa đối với công tác quản lý vốn kinh doanh có hiệu quả. Nêu được mối quan hệ giữa vốn với các nhân tố trong quá trình sản xuất kinh doanh .Điều này có ý nghĩa trong việc sử dụng vốn làm sao cho có hiệu quả nhất. Phải nêu lên được mục đích quản lý và sử dụng vốn là tìm kiếm lợi ích kinh tế,lợi ích xã hội mà vốn đem lại,vấn đề này được định hướng cho quá trình quản lý kinh tế nói chung và quá trình quản lý vốn của doanh nghiệp nói riêng Từ những đặc điểm về vốn nói trên ta sẽ đi đến một khái niệm về vốn : 5 Vốn là một phần thu nhập quốc dân dưới dạng tài sản vật chất và tài sản tài chính được các cá nhân các tổ chức các doanh nghiệp bỏ ra để tiến hành sản xuất kinh doanh nhằn tối đa hoá lợi ích.
Như ở trên ta mới xem xét khái niệm chung về vốn, còn đối với doanh nghiệp thì vốn ở đây ta hiểu là vốn kinh doanh vì doanh nghiệp sẽ sử dụng vốn vào quá trình sản xuất kinh doanh của mình để nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận, chính vì vậy khái niệm về vốn kinh doanh có những đặc điểm khác so với vốn nói chung mà ta đã tìm hiểu ở trên , vốn kinh doanh của doanh nghiệp phải có những đặc điểm sau: Là phương tiện để đạt mục đích phát triển kinh tế và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người lao động. Vốn có giá trị(trao đổi mua bán) , có giá trị sử dụng Khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh vốn phải luôn biến động và chuyển hoá hình thái vật chất theo thời gian và không gian. Dưới góc độ pháp luật thì vốn của doanh nghiệp là căn cứ đầu tiên để xác lập địa vị pháp lý của doanh nghiệp nó quyết định đến việc thành lập hay phá sản của một doanh nghiệp về mặt pháp lý. Vai trò của vốn đối với doanh nghiệp Vốn trong doanh nghiệp bao gồm hai loại vốn : Vốn cố định và vốn lưu động.
Vốn lưu động là giá trị những tài sản lưu động mà doanh nghiệp đã đầu tư vào quá trình sản xuất kinh doanh, đó là số vốn bằng tiền ứng ra để mua sắm các tài sản lưu động sản xuất và các tài sản lưu động lưu thông nhằm đảm bảo cho quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp được thực hiện thường xuyên, liên tục. Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh ngoài các tư liệu lao động các doanh nghiệp còn có các đối tượng lao động. Khác với các tư liệu lao động, các đối tượng lao động (như nguyên, nhiên, vật liệu, bán thành phẩm…) chỉ 6 tham gia vào một chu kỳ sản xuất và không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu, giá trị của nó được chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm. Những đối tượng lao động nói trên nếu xét về hình thái hiện vật được gọi là các tài sản lưu động, còn về hình thái giá trị được gọi là vốn lưu động của doanh nghiệp.
Là biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động nên đặc điểm vận động của vốn lưu động luôn chịu sự chi phối bởi những đặc điểm của tài sản lưu động. Trong các doanh nghiệp người ta thường chia tài sản lưu động thành hai loại: tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông. Tài sản lưu động sản xuất bao gồm các loại nguyên, nhiên, vật liệu; phụ tùng thay thế, bán thành phẩm, sản phẩm dở dang. đang trong quá trình dự trữ sản xuất, chế biến.
Còn tài sản lưu động lưu thông bao gồm các sản phẩm thành phẩm chờ tiêu thụ, các loại vốn bằng tiền, các khoản vốn trong thanh toán, các khoản chi phí chờ kết chuyển, chi phí trả trước. Trong quá trình sản xuất kinh doanh các tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông luôn vận động, thay thế và chuyển hoá lẫn nhau, đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành liên tục và thuận lợi. Vốn lưu động được chuyển hoá qua nhiều hình thái khác nhau, bắt đầu là tiền tệ sang hình thái vật tư, hàng hoá dự trữ. Khi vật tư dự trữ được đưa vào sản xuất, chúng ta chế tạo thành các bán thành phẩm.
Sau khi sản phẩm sản xuất ra được tiêu thụ, vốn lưu động quay về hình thái tiền tệ ban đầu của nó. Quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra liên tục, không ngừng, cho nên vốn lưu động cũng tuần hoàn không ngừng có tính chất chu kỳ tạo thành sự chu chuyển của vốn lưu động. Do có sự chu chuyển không ngừng nên vốn lưu động thường xuyên có các bộ phận tồn tại cùng một lúc dưới các hình thái khác nhau trong sản xuất và lưu thông. 7 Sơ đồ chu chuyển của VLĐ: Vốn bằng tiền Mua vật tư, Vốn dự trữ sx hàng hóa Tiêu thụ sản phẩm Vốn trong sx Sản xuất sản phẩm Phù hợp với các đặc điểm trên của tài sản lưu động, vốn lưu động của các doanh nghiệp cũng không ngừng vận động qua các giai đoạn của chu kỳ kinh doanh: dự trữ sản xuất, sản xuất và lưu thông.
Quá trình này được diễn ra liên tục và thường xuyên lặp lại theo chu kỳ và được gọi là quá trình tuần hoàn, chu chuyển của vốn lưu động. Vốn lưu động có hai đặc điểm: Thứ nhất, vốn lưu động tham gia vào một chu kỳ sản xuất kinh doanh và bị hao mòn hoàn toàn trong quá trình sản xuất đó. Giá trị của nó chuyển hết một lần vào giá trị sản phẩm để cấu thành nên giá trị sản phẩm. Thứ hai, qua mỗi giai đoạn của chu kỳ kinh doanh vốn lưu động thường xuyên thay đổi hình thái biểu hiện, từ hình thái vốn tiền tệ ban đầu chuyyển sang vốn vật tư hàng hoá dự trữ và vốn sản xuất, rồi cuối cùng lại trở về hình thái vốn tiền tệ.
Sau mỗi chu kỳ tái sản xuất, vốn lưu động hoàn thành một vòng chu chuyển. Tài sản cố định là những tư liệu lao động chủ yếu và những tài sản khác có giá trị lớn và thời gian sử dụng lâu dài. Tuỳ theo điều kiện kinh tế, yêu cầu và trình độ quản lý kinh tê trong từng giai đoạn phát triển kinh tế của đất nước mà nhà nước có quy định cụ thể về giá trị và thời gian sử dụng của những tư liêụ lao động và những tài sản khác được coi là tài sản cố định là: - Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó. 8 - Nguyên giá phải được xác định một cách đáng tin cậy.
- Thời gian sử dụng trên 1 năm - Có giá trị từ 10 triệu đồng trở lên. Vốn cố định của doanh nghiệp là một bộ phận của vốn sản xuất kinh doanh ứng ra để hình thành nên tài sản cố định của doanh nghiệp. Tài sản cố định là những tư liệu lao động chủ yếu, có đặc điểm là tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh và giá trị của nó được dịch chuyển dần vào giá trị của sản phẩm. Trong quá trình sản xuất kinh doanh, sự vân động của vốn cố định được gắn liền với hình thái biểu hiện vật chất của nó là tài sản cố định.