Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ BIỆN PHÁP TẠM GIAM 1. Những vấn đề lý luận về biện pháp tạm giam 1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa biện pháp tạm giam a, Khái niệm biện pháp tạm giam. Đấu tranh phòng và chống tội phạm là vấn đề quan trọng trong xã hội.
Ở bất kỳ mỗi quốc gia nào, tội phạm luôn là một vấn đề quan trọng cấp thiết có ảnh hưởng tới không chỉ đối với từng cá nhân con người mà còn tác động một cách trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự tồn tại, ổn định của chế độ nhà nước, chế độ kinh tế - chính trị và xã hội. Do đó, để đảm bảo cho việc phát hiện, truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội chính xác, xử lý nghiêm minh, khách quan, nhanh chóng, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, nên luật TTHS đã được ra đời. Thông qua luật TTHS, Nhà nước thực hiện quyền lực của mình trong lĩnh vực đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, thể hiện sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước đối với tội phạm và người phạm tội [12, tr. 42], góp phần giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội; ngăn ngừa và khắc phục những hậu quả do hành vi phạm tội gây ra, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Khi nói đến nhà nước pháp quyền, phải thấy ban đầu đây là quan niệm, tư tưởng về dân chủ và về phương thức tổ chức quyền lực, trong đó vai trò của pháp luật luôn được đề cao và phải được bảo đảm tôn trọng[13, tr. Pháp luật giữ vị trí tối thượng trong đời sống nhà nước và đời sống xã hội. Sự thống trị của Hiến pháp và pháp luật chính là cơ sở hình thành nên nhà nước pháp quyền, vì thế, tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh Hiến pháp và pháp luật là một nhu cầu tự thân và là đòi hỏi căn bản cho sự tồn tại, phát triển của nhà nước đó. Pháp luật nói chung và luật TTHS nói riêng là phương tiện quan trọng để giáo dục công dân nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật và tôn trọng quy tắc của 8 cuộc sống xã hội chủ nghĩa.
Việc tạo cho được ý thức coi trọng pháp luật trong quản lý xã hội, quản lý nhà nước là một điều vô cùng quan trọng. Luật TTHS còn quy định những biện pháp có ý nghĩa khuyến khích, động viên đối với những người thực hiện tốt nghĩa vụ của mình hoặc yêu cầu phải thực hiện theo đúng quy định. Tuy nhiên sẽ có trường hợp các biện pháp thuyết phục, giáo dục được áp dụng không đem lại hiệu quả, các cơ quan pháp luật phải sử dụng đến các biện pháp có tính quyền lực cưỡng chế như là một công cụ tác động xã hội sắc bén và hữu hiệu để buộc các chủ thể phải thể hiện sự tôn trọng pháp luật bằng việc thực hiện những hành vi cụ thể phù hợp lợi ích của nhà nước được thể hiện trong các quy phạm pháp luật. Cưỡng chế nhà nước là yếu tố cần thiết, không thể thiếu được trong cơ chế điều chỉnh pháp luật[14, tr.
Theo từ điển Luật học thì Biện pháp cưỡng chế có nghĩa là “biện pháp bắt buộc cá nhân hay tổ chức phải thực hiện một nghĩa vụ, trách nhiệm theo quyết định đã có hiệu lực của một cá nhân, tổ chức có thẩm quyền”[15, tr. Có thể thấy, đây là biện pháp mang tính quyền lực nhà nước do cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng theo những thủ tục, trình tự và điều kiện nhất định. Tùy vào tính chất, mức độ vi phạm pháp luật mà cưỡng chế có nhiều hình thức khác nhau như cưỡng chế dân sự, cưỡng chế tố tụng hình sự v.v… Trong khoa học luật TTHS Việt Nam, các Biện pháp cưỡng chế tố tụng được hiểu là biện pháp cưỡng chế nhà nước được áp dụng với đối tượng, trong trường hợp, theo trình tự, thủ tục luật định nhằm ngăn chặn tội phạm, loại trừ những hành vi cản trở, gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án hình sự[16, tr. Đây là biện pháp có tính quyền lực nhà nước do cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng, có tính chất bắt buộc đối với đối tượng bị áp dụng, hạn chế một số quyền của họ và có mức độ nghiêm khắc cao hơn so với các biện pháp cưỡng chế trong lĩnh vực khác.
Từ bản chất của tội phạm là hành vi gây nguy hiểm cho xã hội cũng như nhiệm vụ phát hiện, xác định tội phạm, ngăn chặn tiếp tục phạm tội và truy cứu phù hợp đối với người phạm tội, thì việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế trong lĩnh vực TTHS thực sự là nhu cầu cần thiết khách quan, đảm 9 bảo cho các hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. TTHS là lĩnh vực mà trong đó việc áp dụng biện pháp cưỡng chế có nguy cơ xâm phạm nhiều nhất vào quyền nhân thân của cá nhân, hạn chế đi các quyền tự do của họ. Nếu áp dụng vượt quá giới hạn, không tuân thủ các quy định của pháp luật sẽ xảy ra tình trạng lạm quyền, dẫn đến các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân bị vi phạm nghiêm trọng. Vì vậy, cần phải hạn chế việc áp dụng biện pháp cưỡng chế trong thực tiễn TTHS.
Đồng thời, cần thiết quy định một cách chặt chẽ, chính xác, cụ thể chế định các biện pháp cưỡng chế TTHS, điều này không những thể hiện sự tôn trọng của Nhà nước ta đối với các quyền tự do cá nhân, mà còn là cơ sở pháp lý bảo đảm sự giám sát của nhân dân, xã hội đối với toàn bộ hoạt động TTHS nói chung và áp dụng các biện pháp cưỡng chế TTHS nói riêng[17, tr. Để tạo điều kiện thuận lợi cho công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, pháp luật TTHS đã quy định một loạt các biện pháp cưỡng chế khác nhau nhằm thực hiện những mục đích tố tụng nhất định. Có thể chia thành các nhóm biện pháp cưỡng chế sau: Nhóm thứ nhất: Các biện pháp cưỡng chế, gồm: Giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam, bảo lãnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh. Nhóm thứ hai: Các biện pháp đảm bảo cho việc thu thập chứng cứ, như: khám xét, dẫn giải, thu giữ thư tín; lấy lời khai người bị buộc tội; hỏi cung bị can.
Nhóm thứ ba: Các biện pháp đảm bảo cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án, gồm: kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản, tạm đình chỉ có thời hạn hoạt động của pháp nhân có liên quan đến hành vi phạm tội của pháp nhân, buộc pháp nhân nộp một khoản tiền để bảo đảm thi hành án, áp giải bị can, bị cáo, người bị kết án, dẫn giải người làm chứng, những biện pháp xử lý do thẩm phán chủ tọa phiên tòa áp dụng đối với người có hành vi vi phạm nội quy phiên tòa. 10 Trong hệ thống các biện pháp cưỡng chế trong TTHS, các BPNC có vai trò đặc biệt quan trọng. Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế tác động trực tiếp đến khả năng ngăn chặn được việc thực hiện tội phạm, không để người phạm tội trốn, tiêu hủy chứng cứ, ngăn ngừa hành vi phạm tội mới, bảo đảm cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án; góp phần to lớn vào công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung, giải quyết các nhiệm vụ của TTHS nói riêng. Có thể thấy biện pháp cưỡng chế có những dấu hiệu đặc trưng sau đây: + Mục đích áp dụng: Ngăn chặn không cho tội phạm xảy ra, ngăn ngừa khả năng tiếp tục phạm tội, hay hành vi trốn tránh pháp luật bảo đảm cho công tác điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án được tiến hành một cách thuận lợi, nhanh chóng, đúng pháp luật.
+ Đối tượng có thể bị áp dụng: Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người phạm tội quả tang, bị can, bị cáo, người bị kết án. + Chủ thể có thẩm quyền áp dụng: Đó là những người có thẩm quyền trong các cơ quan tiến hành tố tụng như Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT; Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện KSND và Viện KSQS các cấp; Chánh án, Phó Chánh án TAND và TAQS các cấp,.hoặc những người giữ chức vụ trong các cơ quan Nhà nước được giao thực hiện một số hoạt động tố tụng. + Các trường hợp áp dụng: Chỉ áp dụng BPNC này trong những trường hợp cần thiết, căn cứ vào các quy định của pháp luật. Khi áp dụng thì các chủ thể có thẩm quyền phải xem xét cẩn thận, đánh giá chặt chẽ trước khi quyết định áp dụng các BPNC và nếu xét thấy cần thiết thì có thể thay thế BPNC đang áp dụng bằng BPNC khác.
Như vậy từ những phân tích trên, có thể hiểu BPNC là: biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự do cơ quan hoặc người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật áp dụng đối với người bị buộc tội nhằm kịp thời ngăn chặn tội phạm, ngăn chặn hành vi trốn tránh pháp luật, tiêu hủy chứng cứ, ngăn ngừa hành vi phạm tội mới hoặc các hành vi gây cản trở cho quá trình điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. 11 Tạm giam là một trong các BPNC của TTHS, có tính nghiêm khắc nhất trong số các BPNC. Tuy nhiên, biện pháp này không phải là hình phạt bởi vì mục đích của nó cũng như mục đích của BPNC nói chung, không nhằm trừng trị người phạm tội hay giáo dục cải tạo họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống XHCN. Tạm giam được áp dụng đối với bị can, bị cáo, được áp dụng trong thời hạn nhất định, trong trường hợp đặc biệt thì thời hạn tạm giam dài hơn mức tối thiểu của hình phạt tù có thời hạn.
Áp dụng biện pháp tạm giam không phải là tước bỏ quyền tự do của bị can, bị cáo mà là tạm thời hạn chế tự do thân thể, tự do đi lại và một số quyền tự do cá nhân khác như quyền tự do ngôn luận, hội họp,…nhằm ngăn chặn bị can tiếp tục phạm tội, bảo đảm cho quá trình giải quyết vụ án hình sự một cách thuận lợi, nhanh chóng.