CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ QUẢN LÝ VĂN HOÁ TỔ CHỨC NHÀ TRƯỜNG 1. Vài nét sơ lược về các nghiên cứu vấn đề quản lý văn hóa Nhà trường Văn hoá tổ chức được khởi nguồn từ Mỹ từ thập niên 1960 - 1970, trên cơ sở được hình thành từ các tổ chức kinh tế. Sau đó, được Nhật Bản xây dựng và phát triển mạnh mẽ. Khái niệm văn hoá tổ chức ngày càng trở nên phổ biến, trong đó, Mỹ, Nhật là những quốc gia được coi là có văn hoá tổ chức tiêu biểu bởi tính hiệu quả mà văn hoá tổ chức của họ mang lại cho hoạt động tổ chức.
Tuy nhiên, ngoài việc tiếp thu những giá trị văn hoá tiên tiến, văn hoá tổ chức ở mỗi quốc gia phải biết bám sâu vào nền văn hoá dân tộc, làm cho bản sắc văn hoá dân tộc hoà quyện vào trong văn hoá tổ chức mới phát huy được tối đa hiệu quả. Việt nam, với sự phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vào những năm gần đây, văn hoá tổ chức đã được nhận diện như một tiêu chí khi xây dựng hoạt động các tổ chức mang tính chuyên nghiệp. Thậm chí có những tổ chức đã mạnh dạn mời các Công ty tư vấn chuyên nghiệp nước ngoài vào xây dựng văn hoá tổ chức cho mình. Điều đó chứng tỏ khái niệm văn hoá tổ chức tuy còn mới mẻ đối với Việt nam nhưng các tổ chức Việt nam đã ý thức được tầm quan trọng của văn hoá tổ chức.
Gần đây, nhiều công trình nghiên cứu về văn hoá tổ chức của các Nhà nghiên cứu đã viết và cho xuất bản nhiều sách, giáo trình, tài liệu tham khảo như các tác giả: PGS. Dương Thị Liễu, TS. Dương Quốc Thắng, TS. Phan Đình Quyền, ThS.
Lê Việt Hưng, ThS. Trần Thị Tuyết Mai, TS. Trần Thị Thanh Thuỷ. Tuy nhiên, phần lớn các tác giả tập trung nghiên cứu nhiều cho việc xây dựng văn hoá cho các tổ chức kinh tế, trong khi việc xây dựng văn hoá tổ chức cho các tổ chức giáo dục lại vô cùng quan trọng, bởi hơn bất cứ tổ chức nào hết trong xã hội, Nhà trường phải là tổ chức có “hàm lượng” 6 z văn hoá cao nhất; là nơi hội tụ, kết tinh văn hoá để đào tạo ra những chuẩn mực văn hoá cho xã hội.
Từ phân tích trên cho thấy, việc nghiên cứu đề tài “Biện pháp quản lý văn hoá tổ chức Trường Trung cấp Công nghệ Hải Phòng” là vô cùng cần thiết; làm nền tảng và định hướng cho sự tiến bộ và phát triển bền vững của Nhà trường. Đồng thời, đây cũng là cơ sở để nghiên cứu sâu hơn cho những công trình nghiên cứu về văn hoá tổ chức sau này của em. Các khái niệm cơ bản của đề tài 1. Một số quan điểm về quản lý Hoạt động quản lí đã có từ xa xưa từ khi con người biết lao động theo từng nhóm đòi hỏi có sự tổ chức, điều khiển và phối hợp hành động.
Nhưng cho đến đầu thế kỷ XX người ta mới thừa nhận Khoa học quản lí và dần dần hình thành nên các thuyết quản lí. Khi nghiên cứu về quản lý có nhiều quan điểm tiếp cận khác nhau: - Tiếp cận truyền thống + Tiếp cận theo kinh nghiêm thực tiễn: Cách tiếp cận này phân tích sự quản lý bằng cách nghiên cứu kinh nghiệm, mà thông thường là thông qua các trường hợp cụ thể. Nó dựa trên sự tin tưởng: qua việc nghiên cứu những trường hợp thành công hoặc sai lầm trong các trường hợp đặc biệt của những người quản lý cũng như dự định của họ để giải quyết những vấn đề đặc trưng từ đó giúp họ hiểu được phải làm như thế nào để quản lý một cách hiệu quả trong hoàn cảnh tương tự [7] + Tiếp cận theo thuyết vi hành (hay thuyết quan hệ con người): Dựa trên ý tưởng cho rằng quản lý làm cho công việc hoàn thành thông qua con người. Do đó việc quản lý là làm cho công việc hoàn thành thông qua con người.
Do đó việc nghiên cứu nên tập trung vào mối liên hệ giữa người với người. Suy 7 z cho cùng, mọi hoạt động xã hội cũng nhằm hướng tới con người, để cho cuộc sống con người trở nên tốt đẹp hơn. Và có lẽ đây là triết lý nhân văn mà mọi hoạt động quản lí không thể tách rời. Qua những quan điểm trong thuyết hành vi như: Hugo Munsterberge, Marry Parker Lollett, Barnard, Abraham đều thấy một tư tưởng chung là tôn trọng yếu tố con người, tập trung vào khía cạnh con người trong quản lý và vào niềm tin khi con người làm việc cùng nhau để hoàn thành các mục tiêu chung của tổ chức [7] + Tiếp cận theo lý thuyết quyết định: Dựa trên sự tin tưởng vào quyết định của những người quản lý, người ta chỉ cần tập trung vào việc đưa ra quyết định sau đó là việc xây dựng lý luận xung quanh việc ra quyết định, tức là lựa chọn trong số các khả năng để có thể rút ra một đường lối hành động.
Theo quan điểm này,trước hết nhà quản lý phải ra các quyết định (quyết định cá nhân hoặc theo nhóm có tổ chức) sau đó phân tích quá trình ra quyết định [7] - Tiếp cận theo lý thuyết hệ thống Đây là một quan điểm hiện đại, được áp dụng trong các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau, đặc biệt trong quản lý. Hệ thống, được hiểu là một tập hợp các bộ phận hay thành tố liên hệ tương hỗ hoặc phụ thuộc lẫn nhau để hình thành nên một thể thống nhất hoàn chỉnh bao gồm: + Đầu vào của hệ thống là các nguồn nhân lực, vật lực và thông tin sẽ được đưa vào quá trình chuyển đổi. + Quá trình chuyển đổi là các công nghệ được sử dụng để biến đổi đầu vào thành đầu ra của hệ thống. + Đầu ra của hệ thống là kết quả của quá trình chuyển đổi.
+ Liên hệ ngược là một dạng thông tin về trạng thái và kết quả hoạt động của hệ thống. Lý thuyết hệ thống đã được nhận thấy có khả năng áp dụng váo lý thuyết và khoa học quản lý. Lý thuyết quản lý với tư cách là một hệ thống cần có 8 z những giới hạn nhằm tạo thuận lợi cho việc nghiên cứu, song nó vẫn là một hệ thống mở đối với môi trường. Do đó, khi lập kế hoạch, các nhà quản lý phảI tính tới các biến ngoại sinh như: thị trường, kỹ thuật công nghệ, các lực lượng xã hội, các luật lệ và những sự điều chỉnh… Như vậy, qua một vài cách tiếp cận, ta có thể nói: Quản lý, xét cho cùng là sự tác động của chủ thể quản lý vào hệ thống, trong đó chủ yếu tác động vào sự hoạt động của con người nhằm mục tiêu kinh tế – xã hội nhất định, đồng thời cũng là mục tiêu của hệ thống.
Bởi vậy, vai trò hoạt động của quản lý là rất lớn đối với tất cả các bình diện kinh tế – xã hội. Trong lao động xã hội, hay lao động chung trực tiếp trên quy mô khá lớn đều đòi hỏi phải có một sự chỉ đạo ít hay nhiều để điều hòa các hoạt động cá nhân và thực hiện các chức năng chung. Tức là những chức năng phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất, khác với sự vận động của các cơ quan độc lập của cơ thể sản xuất đó. Bất kỳ lao động nào có tính xã hội và chung trực tiếp, được thực hiện với quy mô tương đối lớn đều ít nhất cần có sự quản lý.
Fredrick Winslow Taylor (1856 - 1915), người Mỹ, được coi là cha đẻ của Thuyết quản lý khoa học, là một trong những người mở ra “Kỷ nguyên vàng” trong quản lý của Mỹ và các nước phương Tây. Taylor đã định nghĩa “quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [7, Tr. Đó cũng là tư tưởng cơ bản của Taylor về quản lý theo khoa học, gồm 4 điểm chính: + Chú trọng cải tạo các mối quan hệ trong quản lý + Tiêu chuẩn hóa các công việc + Chuyên môn hóa lao động + Hành trình quan niệm con người kinh tế. 9 z Tư tưởng quản lý cốt lõi của Taylor là đối với mỗi loại công việc dù nhỏ nhắt nhất đều có một “khoa học” để thực hiện nó, ông đã liên kết các mặt kỹ thuật và con người trong tổ chức.
Quản lý là là hoạt động có ý thức của con người nhằm định hướng, tổ chức, sử dụng các nguồn lực và phối hợp hành động của một nhóm người hay một cộng đồng người để đạt được các mục tiêu đề ra một cách có hiệu quả nhất [11, tr. “Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động.Chính sự phân công, hợp tác lao động nhằm đến hiệu quả nhiều hơn, năng suất cao hơn trong việc đòi hỏi phải có sự chỉ huy phối hợp, điều hành, kiểm tra, chỉnh lý… phải có người đứng đầu. Đây là hoạt động để người thủ trưởng phối hợp nỗ lực các thành viên trong nhóm, trong cộng đồng, trong tổ chức đạt được mục tiêu đề ra” [4, tr. Khi nghiên cứu về quản lý có nhiều quan điểm tiếp cận khác nhau, các tác giả trong và ngoài nước đã đưa ra các định nghĩa về quản lý, nhưng bản chất chung Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý để chỉ huy điều khiển hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi và hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích, đúng với ý chí nhà quản lý, phù hợp với quy luật khách quan.
Cơ sở tâm lý học quản lý Bản thân mỗi con người đều là một cá thể tâm lý nhất định. Do vậy trước mỗi tình huống, một vấn đề thì mỗi người thường có những thái độ, phản ứng và đưa ra những nhận xét , quyết định hành động theo những cách khác nhau. Chính những “lăng kính tâm lý” đó đã tạo lên những bất đồng ý kiến (thường được gọi là xung đột) đôi khi là giữa cá nhân với cá nhân hoặc cá nhân với tập thể và ngược lại. Đặc biệt, khi có hình thức lao động mới được đưa vào một tổ chức thì hiện tượng này xảy ra là khó tránh khỏi.
Nó có 10 z thể mang đến những kết quả tiêu cực hoặc tích cực phụ thuộc vào bản chất và cường độ của xung đột [18] Lúc này, vai trò của người quản lý là phải làm sao tạo được sự đồng thuận cao nhất, lôi cuốn được mọi thành viên cùng quyết tâm thực hiện để đạt được mục tiêu cho ý tưởng mới.