phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, nội dung chính của luận văn dự kiến được trình bày thành ba chương: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận của việc quản lý đội ngũ giáo viên trường trung học phổ thông. Chƣơng 2: Thực trạng công tác quản lí đội ngũ giáo viên trường trung học phổ thông huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Tây. Chƣơng 3: Những biện pháp quản lí đội ngũ giáo viên trường trung học phổ thông huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Tây. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG.
Cơ sở lý luận của việc quản lý đội ngũ giáo viên trƣờng trung học phổ thông.1 Một số khái niệm có liên quan đến đề tài: 1. Khái niệm về quản lý: Khi sự phân công lao động trong xã hội xuất hiện và phát triển sâu rộng thì sự liên kết giữa con người cá thể với nhau ngày càng cao, con người cá thể một mặt vừa có khả năng tự chủ, mặt khác mối liên hệ cá thể thành hệ thống xã hội ngày càng lớn mà không thể đứng ngoài hệ thống xã hội đó, đặc biệt khi xã hội có và còn giai cấp. Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động. Như vậy, quản lý là một hoạt động khách quan nảy sinh khi cần có nỗ lực tập thể để thực hiện mục tiêu chung.
Khi nói đến hoạt động quản lý, ta thường nhắc tới quan điểm của Các Mác với nội dung: tất cả mọi lao động trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên một quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến sự chỉ đạo để điều hành những hoạt đông cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một nhạc sỹ độc tấu vĩ cầm thì tự điều khiển mình, nhưng một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng. Theo tác giả Trần Kiểm: "Quản lý là những tác động chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn nhân lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất "và" quản lý một hệ thống xã hội là tác động có mục đích đến tập thể người- thành viên của hệ- nhằm làm cho hệ vận hành thuận lợi và đạt mục đích dự kiến" [18, 15] Theo G. Hà Thế Ngữ và G.
Đặng Vũ Hoạt: " Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý là một hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được mục tiêu nhất định " [37,8] 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo PGS. Đặng Quốc Bảo: " Quản lý là quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung. Nguyễn Quốc Chí và PGS. Nguyễn Thị Mỹ Lộc: "Quản lý là hoạt động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức"[23, tr.
Qua những định nghĩa trên ta thấy quản lý có những đặc trưng cơ bản: + Quản lý bao gồm hai thành phần: chủ thể và khách thể quản lý. + Chủ thể và khách thể quản lý có mối quan hệ tác động qua lại, tương hỗ nhau, " chủ thể làm nảy sinh các tác động quản lý, còn khách thể thì nảy sinh các giá trị vật chất và tinh thần, có giá trị sử dụng, trực tiếp đáp ứng nhu cầu của con người, thoả mãn mục đích của chủ thể quản lý." Do đó: Quản lý là một hoạt động nhằm thực hiện những tác động hướng đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm khai thác có hiệu quả những tiềm năng và cơ hội tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức đật ra. Quá trình tác động này được vận hành trong một môi trường xác định. Như vậy quản lý bao giờ cũng tồn tại với tư cách là một hệ thống và nó liên quan đến nhiều yếu tố: các yếu tố cấu trúc (chủ thể, đối tượng, cơ chế, mục tiêu ) và các yếu tố khác ( tổ chức, môi trường, quyền uy…) Công cụ Chủ thể Khách thể Mục tiêu quản lý quản lý Phương pháp Sơ đồ 1: Cấu trúc hệ thống quản lý 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quản lý có các chức năng cơ bản như sau: - Kế hoạch hoá: là việc dựa trên những thông tin thực trạng bộ máy tổ chức, nhân lực, cơ sở vật chất và các điều kiện khác để vạch ra mục tiêu, dự kiến nguồn lực ( nhân lực, tài lực và vật lực ), phân bố thời gian, huy động các phương tiện và đề xuất các biện pháp thực hiện mục tiêu.
- Tổ chức: là việc thiết lập cấu trúc bộ máy, bố trí nhân lực và xây dựng cơ chế hoạt động; đồng thời ấn định chức năng, nhiệm vụ cho các bộ phận và cá nhân; huy động, sắp xếp và phân bổ nguồn lực nhằm thực hiện đúng kế hoạch đã có. - Chỉ đạo: Là chỉ huy, điều phối, hướng dẫn cách làm, động viên, kích thích, giám sát các bộ phận và khai thác các tiềm năng, tiềm lực của cá nhân thực hiện kế hoạch theo đúng ý định đã xác định trong bước tổ chức. - Kiểm tra: là việc theo dõi và đánh giá các hoạt động bằng nhiều phương pháp và hình thức (trực tiếp hoặc gián tiếp, thường xuyên hoặc định kỳ….) nhằm so sánh kết quả với mục tiêu đã xác định để nhận biết về chất lượng và hiệu quả của các hoạt động. - Các chức năng quản lý trên gắn bó chặt chẽ, đan xen lẫn nhau, diễn ra liên tiếp có chu kỳ tạo thành chu trình quản lý.
Trong chu trình quản lý có một yếu tố thâm nhập vào mọi chức năng, đó là yếu tố thông tin. Đây là yếu tố nền tảng quan trọng đảm bảo hiệu quả của từng chức năng quản lý. Mối liên hệ giữa các chức năng quản lý được thể hiện tại sơ đồ sau đây: 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Lập kế hoạch Kiểm tra, Thông tin quản Tổ chức đánh giá lý Sơ đồ 2. Chu trình quản lý: Chỉ đạo Môi trường bên ngoài Sơ đồ 2: Chu trình quản lý 1.
Khái niệm về quản lí giáo dục. Khoa học quản lý giáo dục là một chuyên ngành của khoa học quản lý nói chung. Quản lý giáo dục ( QLGD ) là sự vận dụng khoa học quản lý vào hoạt động giáo dục để thực hiện mục tiêu giáo dục như mong muốn. Quan niệm về QLGD ở các quốc gia cũng khác nhau: - Theo PGS.
Đặng Quốc Bảo: " QLGD theo nghĩa tổng quan là điều hành, phối hợp các lực lượng nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội. Ngày nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thường xuyên, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọi người. Cho nên, QLGD được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân". Phạm Minh Hạc: " QLGD là tổ chức các hoạt động dạy học.
Có tổ chức được các hoạt động dạy học, thực hiện được các tính chất của nhà trường phổ thông Việt Nam xã hội chủ nghĩa, mới quản lý được giáo dục, tức là cụ thể hoá đường lối giáo dục của Đảng và đưa đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng nhu cầu của nhân dân, của đất nước. Nguyễn Ngọc Quang: " QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học- giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất. Đỗ Hoàng Toàn: " QLGD là tập hợp những biện pháp tổ chức, phương pháp giáo dục, kế hoạch hoá, tài chính…nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, đảm bảo sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về số lượng cũng như về chất lượng. Khuđôminski: QLGD là những tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và mục đích của các chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống ( từ Bộ giáo dục đến nhà trường ), nhằm mục đích đảm bảo việc giáo dục cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, đảm bảo sự phát triển toàn diện và hài hoà của họ.
Trên cơ sở nhận thức và sử dụng những quy luật chung vốn có của CNXH như các quy luật khách quan của quá trình dạy học, giáo dục, của sự phát triển về thể chất và tâm lý của trẻ em, thiếu niên cũng như thanh niên. - QLGD (Theo nghĩa tổng quát) là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn một cách hiệu quả nhất. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - QLGD (Theo nghĩa hẹp) là quản lý các thành tố của hệ thống giáo dục, các cơ sở giáo dục; là sự vận dụng các chức năng quản lý, kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra của chủ thể vào quá trình thực hiện nguyên lý giáo dục, nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục nhằm đạt được mục tiêu giáo dục. - Khái quát lại, nội hàm của khái niệm QLGD chứa đựng những nhân tố đặc trưng cơ bản sau: + Phải có chủ thể QLGD, ở tầm vĩ mô là quản lý của Nhà nước mà cơ quan quản lý trực tiếp là Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT, phòng giáo dục, ở tầm vi mô là nhà trường.
+ Phải có hệ thống tác động quản lý theo một nội dung, chương trình, kế hoạch thống nhất từ trung ương đến địa phương nhằm thực hiện mục đích giáo dục trong mỗi giai đoạn cụ thể của xã hội. + Phải có một lực lượng đông đảo những người làm công tác giáo dục cùng với hệ thống cơ sở vật chất tương ứng.