Chương 1: TỔNG THUẬT MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TOÁN TẠI TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề Thế kỷ XX và những năm đầu của thế kỷ XXI đánh dấu nhiều thành tựu của khoa học giáo dục, thành tựu đáng kể nhất đó là lý luận giáo dục được gắn với lý luận phát triển (kinh tế học phát triển) và sự ra đời của Kinh tế học giáo dục, Xã hội học giáo dục, lý luận quản lý nhà trường. Mặc dù khoa học quản lý giáo dục ở nước ta còn non trẻ nhưng đã phát triển nhanh chóng về cả cơ sở lý luận và thực tiễn. Chúng ta đã có hàng loạt những thành tựu về khoa học quản lý nói chung và khoa học QLGD nói riêng.
Các tác giả, các nhà nghiên cứu và các nhà QLGD như Phạm Minh Hạc, Nguyễn Hữu Châu, Nguyễn Cảnh Toàn, Đặng Quốc Bảo, Đặng Bá Lãm, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Phạm Viết Vượng. đã có nhiều công trình nghiên cứu có giá trị về QLGD, quản lý nhà trường. Trong sự nghiệp đổi mới giáo dục hiện nay, công tác nghiên cứu về QLGD, quản lý nhà trường càng phát huy vai trò đặc biệt quan trọng. Tuy nhiên các công trình nghiên cứu trước đây thường đi sâu vào lý luận QLGD nói chung, còn ở phương diện quản lý cụ thể một môn học ở trường phổ thông trong đó có môn Toán ở cấp THCS thì chưa được đề cập nhiều.
Trong những năm gần đây lý luận về quản lý các môn học trong trường phổ thông đã được quan tâm, nhất là trong các luận văn thạc sĩ về QLGD. Đối với môn Toán ở trường phổ thông, nhiều công trình nghiên cứu của nhiều chuyên gia cũng đã đề cập ít nhiều về phương diện quản lý quá trình dạy học môn Toán sao cho có hiệu quả nhất. Tiêu biểu có thể kể đến một số công trình nghiên cứu có giá trị như: Phương pháp dạy học đại cương môn Toán của tác giả Nguyễn Bá Kim (2007); Vận dụng lý luận vào thực tiễn dạy 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com học môn Toán ở trường Phổ thông của tác giả Bùi Văn Nghị (2009); Cẩm nang dạy và học Toán trung học cơ sở của tác giả Vũ Hữu Bình ( 2007). Từ việc kế thừa các kết quả nghiên cứu đi trước, chúng tôi đi sâu nghiên cứu cơ sở lý luận, khảo sát thực trạng hoạt động dạy học và quản lý hoạt động dạy học môn Toán, đề xuất biện pháp hoạt động dạy học môn Toán ở trường THCS Yên Hòa quận Cầu Giấy, Hà Nội trong bối cảnh hiện nay 1.
Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý, biện pháp quản lý 1. Quản lý Quản lý là một hiện tượng xã hội, là yếu tố cấu thành sự tồn tại và phát triển của loài người. Loài người đã trải qua nhiều thời kỳ phát triển với nhiều hình thái xã hội khác nhau nên cũng trải qua nhiều hình thức QL khác nhau.
Các triết gia, các nhà chính trị từ thời cổ đại đến nay đều rất coi trọng vai trò của QL trong sự ổn định và phát triển của xã hội. QL là một phạm trù khách quan và là một tất yếu lịch sử. Nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra khái niệm về QL dưới các góc độ khác nhau.Taylor được coi là cha đẻ của thuyết QL khoa học đã cho rằng cốt lõi trong QL là: “Mỗi loại công việc dù nhỏ nhất đều phải chuyên môn hoá và phải QL chặt chẽ ”, “QL là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất”[19, tr46]. Henri Fayol thì xuất phát từ các loại hình hoạt động quản lý khi cho rằng: “QL là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các HĐ (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, và kiểm tra”[19, tr46].
Mary Parker Follett đã có những đóng góp lớn lao trong thuyết hành vi trong QL. Ông khẳng định: “QL là một quá trình động, liên tục, kế tiếp nhau chứ không tĩnh tại.” [20, tr33] Theo các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: Hoạt động QL là: “Tác động có định hướng có chủ đích của chủ thể QL (người QL) đến 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khách thể QL ( người bị QL) – trong một tổ chức- nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [20, tr1] Từ các quan niệm trên, ta thấy bản chất chung của khái niệm QL là một quá trình tác động có ý thức, có định hướng và có tổ chức của chủ thể QL đến khách thể QL nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra một cách hiệu quả nhất trong điều kiện biến động của môi trường. QL tồn tại trong mọi quá trình hoạt động của xã hội và là điều kiện quan trọng để tổ chức xã hội vận hành và phát triển. Trong khái niệm quản lý, ta cần chú ý các yếu tố sau: Chủ thể QL: là một cá nhân, một nhóm người hay một tổ chức tạo ra những tác động QL.
Nó trả lời câu hỏi: Ai QL Khách thể QL: Là những đối tượng tiếp nhận các tác động QL. + Khách thể QL có thể là người, trả lời câu hỏi: QL ai? + Khách thể QL có thể là vật, trả lời câu hỏi: QL cái gì? + Khách thể QL có thể là việc, trả lời câu hỏi: QL việc gì? Mục tiêu QL: là căn cứ để chủ thể tạo ra những tác động QL lên đối tượng QL. Quá trình QL mang tính tổng hợp, không tuân theo những quy định cứng nhắc mà phải mềm dẻo linh hoạt. Biện pháp quản lý Biện pháp có nghĩa là cách làm, cách thức tiến hành, giải quyết một vấn đề, một công việc cụ thể nào đó.
Biện pháp QL là tổng thể cách thức tác động của chủ thể QL lên đối tượng QL trong quá trình tiến hành các hoạt động nhằm đạt được mục tiêu đề ra. Biện pháp QL là yếu tố động, thường được thay đổi theo đối tượng và tình huống. Căn cứ vào tác động của chủ thể QL lên đối tượng quản lý, có thể chia thành nhóm biện pháp cơ bản sau: a) Biện pháp thuyết phục 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Biện pháp thuyết phục là cách tác động và nhận thức của con người bằng lí lẽ cho con người có nhận thức đúng đắn và tự nguyện thừa nhận những yêu cầu của QL và từ đó có thái độ và hành vi phù hợp với các yêu cầu đó. b) Biện pháp tổ chức – hành chính Biện pháp tổ chức – hành chính là cách tác động trực tiếp của hệ QL đến hệ bị QL trên cơ sở quan hệ tổ chức và quyền lực hành chính bằng mệnh lệnh, chỉ thị, quyết định.
Biện pháp này thể hiện sức mạnh của tổ chức, xác lập trật tự kỷ cương của bộ máy, giúp cho các quyết định QL được thi hành nhanh chóng và chính xác, tăng hiệu quả hoạt động QL. c) Biện pháp quản kinh tế Biện pháp kinh tế là cách tác động của chủ thể QL tới đối tượng QL thông qua lợi ích kinh tế, tạo động lực thúc đẩy con người tích cực hoạt động. d) Biện pháp tâm lý – giáo dục Biện pháp tâm lý – giáo dục là cách tác động của chủ thể QL tới đối tượng QL thông qua đời sống tâm lý cá nhân, các hệ tư tưởng, tâm tư tình cảm, nguyện vọng của họ. Biện pháp này dựa trên cơ sở các quy luật tâm lý của con người dựa vào uy tín của người QL để lôi cuốn các thành viên trong tổ chức hăng hái, tích cực tham gia công việc.
Các nhà QL cần biết phối hợp các biện pháp QL một cách linh hoạt nhằm khai thác mặt mạnh, hạn chế mặt nhược điểm của từng biện pháp. Không có một biện pháp nào là hoàn toàn tối ưu hay hoàn toàn hạn chế. Vận dụng các biện pháp thành công đem lại hiệu quả QL. Điều đó phụ thuộc vào khả năng sáng tạo và sự mềm dẻo, linh hoạt của các nhà quản lý.
Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường 1.1 Quản lý giáo dục GD là một hoạt động đặc trưng của con người, có sự tham gia của nhiều thành tố khác nhau nhằm hướng tới một mục tiêu đào tạo thế hệ trẻ cho 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đất nước. Dưới góc độ coi giáo dục là một hoạt động chuyên biệt thì QLGD là QL tất cả các hoạt động của một cơ sở giáo dục như trường học, các đơn vị phục vụ đào tạo, là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân nhằm đạt được mục tiêu đào tạo. Dưới góc độ xã hội, QLGD là QL mọi hoạt động giáo dục trong xã hội. Các khái niệm về QLGD cũng hết sức phong phú.
Có thể nêu lên một số khái niệm là: Theo P. Khudominxly: “QLGD là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và mục đích của các chủ thể QL ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống nhằm mục đích bảo vệ việc GD, đảm bảo sự phát triển toàn diện, hài hoà của họ” [27, tr10] Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: QLGD là hoạt động có ý thức bằng cách vận dụng các quy luật khách quan của các nhà QLGD tác động đến toàn bộ hệ thống giáo dục nhằm làm cho hệ thống đạt được mục tiêu của nó. [21] Tác giả Phạm Viết Vượng đã viết trong tác phẩm Giáo dục học: “Mục đích cuối cùng của QLGD là tổ chức quá trình giáo dục có hiệu quả để đào tạo lớp thanh niên thông minh, sáng tạo, năng động, tự chủ, biết sống và biết phấn đấu vì hạnh phúc của bản thân, gia đình và của xã hội”. [32, tr206] Theo tác giả Đặng Bá Lãm, QLGD là hệ thống có mục đích, có kế hoach, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối, nguyên lý giáo dục của Đảng, thể hiện được tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học – giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất.
[18] Như vậy, chúng ta có thể hiểu một cách khái quát: QLGD là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác GD&ĐT thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội. Cụ thể hơn, QLGD là hệ thống 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.