Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA – ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu trên thế giới Từ lịch sử phát triển giáo dục và thực tiễn trên thế giới cho chúng ta thấy trong dạy học việc KT - ĐG chất lượng học sinh là khâu không thể thiếu được trong quá trình dạy học, nó vừa là động lực, vừa là nhân tố nhằm nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường. Ngay từ khi xuất hiện mô hình nhà trường, các hình thức KT - ĐG mức độ nhận thức của người học cũng ra đời.
Tuy nhiên ở mỗi giai đoạn lịch sử, mỗi quốc gia khác nhau có những hình thức KT - ĐG khác nhau nhưng đều đưa ra những qui định chuẩn, phù hợp với yêu cầu của xã hội hiện tại. Chẳng hạn: Thời kì phong kiến sử dụng thi, kiểm tra để đánh giá kết quả của người học; Thời kì tiền công nghiệp thì kiểm tra phải phù hợp với trình độ người học và coi đó là một cách thức dạy - học, có vai trò khuyến khích học sinh tích cực, tự giác học tập; Thời kì hậu công nghiệp KT - ĐG phát triển theo tiêu chí hướng vào mục đích, yêu cầu của chương trình giảng dạy. Đã từ lâu, tại một số nước châu Âu, việc KT - ĐG tri thức của HS được quy định dưới dạng các kỳ thi hoặc kiểm tra với mức độ và hình thức khác nhau. Đầu thế kỷ XVI ông tổ của nền sư phạm cận đại J.Comcnxky (1592 - 1670) nhà giáo dục vĩ đại người Séc đã đưa ra mô hình nhà trường phân theo cấp học, bậc học quy định chặt chẽ về chương trình, nội dung, thời gian đào, cách kiểm tra, đánh giá,.được nhiều quốc gia áp dụng.
Từ giữa thập niên 80 của thế kỷ XX, trên thế giới đã có cuộc cách mạng về KT - ĐG với những thay đổi căn bản về triết lý, quan điểm, phương pháp và các hoạt động cụ thể. Thành tựu mới về KT - ĐG không chỉ đạt được trong lý luận mà còn thành công trong việc triển khai KT - ĐG tại các trưởng học trong thực tiễn. Những thành tự đó là những xu hướng đánh giá đa dạng, như Đánh giá phát triển (Fomative Assessment), Đánh giá thực tiễn (Authentic Assessment), Đánh giá sáng tạo (Altcmatinvc Assessment),… Xu hướng đánh giá mới nhất của thế giới là đánh giá theo năng lực (Competence base Assessment) là “Đánh giá khả năng tiềm ẩn của học sinh dựa trên kết quả đầu ra cuối một giai đoạn học tập, là quá trình tìm kiếm minh chứng về việc học sinh đã thực hiện thành công các sản phẩm đó”. Từ những năm 1975 trở lại đây có rất nhiều công trình nghiên cứu giải quyết vấn đề kiểm tra, đánh giá chất lượng HS như: Trong nghiên cứu về vai trò và vị trí của công tác đánh giá trong trường học với nhan đề “Evaluation of schools providing Compulsory Education in Europe” nhóm tác giả của viện nghiên cứu giáo dục châu Âu 7 đã khẳng định công tác đánh giá là chìa khóa để khẳng định tầm quan trọng của việc đảm bảo chất lượng giáo dục.
Ngoài ra, nghiên cứu này cùng chỉ rõ ai sẽ là người tham gia vào công tác đánh giá, các hình thức đánh giá trong trường học, mục tiêu, tiêu chuẩn và các thủ tục để thực hiện công tác đánh giá. Nhóm tác giả cũng đã chỉ rõ vị trí và vai trò cùa công tác đánh giá trong nhà trường bằng sơ đồ 1. Vai trò của công tác đánh giá trong nhà trường Ta nhận thấy rằng công tác đánh giá có vị trí rất quan trọng trong nhà trường, nó giúp đánh giá công tác quản lý của lãnh đạo nhà trường, đánh giá giáo viên, đánh giá học sinh và đánh giá tổng thể về nhà trường. Qua đó, những thông tin đánh giá được phản hồi ngược về cho các đối tượng cụ thể để qua đó nhằm kiểm chứng thông tin đã thu thập được với mong muốn tìm ra cách thức quản lý, cách thức giảng dạy hoặc cách thức học lập sao cho hiệu quả hơn.
Các nghiên cứu trong nước Ở nước ta việc KT – ĐG chất lượng học tập được coi là một nhiệm vụ quan trọng của các trường học. Đây là một hoạt động để người học, người dạy và nhà quản lý đánh giá lại việc làm của mình nhằm có hướng phát huy và điều chỉnh phù hợp. KT – ĐG kết quả học tập của HS đã có từ thời nhà Lý thế kỷ XI - XIII thông qua các kì thi Hương để chọn tú tài, cử nhân; thi Hội để chọn Thái học sinh, phó bảng, thi Đình để chọn Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa với 3 hình thức cơ bản là thi văn, thi võ, thi Lại viên. Trong các kì thi này được quy định rất chặt chẽ nhiệm vụ của các lực lượng, sự thưởng phạt nghiêm minh.
Tuy nhiên có nhiều phiền toái, gò bó, không phát huy hết khả năng sáng tạo của thí sinh. Bên cạnh đó kết quả của các kì thi thi này hoàn toàn phụ thuộc vào sự nhận xét chủ quan của giám khảo. Thời kỳ Pháp thuộc, nền giáo dục Việt Nam mang tính nô dịch thuộc địa với chủ trương đào tạo một số ít người làm tay sai, còn đại đa số nhân dân là mù chữ (chính sách ngu dân để dễ cai trị). Thời kỳ này các kỳ thi tuyển được tổ chức rất nghiêm túc và được bảo đảm bằng pháp luật, trung tâm khảo thí là đơn vị độc lập với Bộ Giáo dục.
Công tác KT – ĐG chất lượng giáo dục luôn gắn liền với mục tiêu đào tạo của 8 thực dân phong kiến. Sau khi nước Việt Nam ra đời năm 1945 đến nay, các biện pháp quản lý việc KT – ĐG giá đã thay đổi so với chế độ xã hội thực dân. Trong những năm gần đây, trước sự tác động mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, sự tác động về giáo dục của những nước có nền giáo dục phát triển, hoạt động quản lý KT – ĐG có những phát triển mới, với những thay đổi căn bản cả về triết lý, quan điểm, phương pháp, và các hoạt động quản lý cụ thể. Những thay đổi trong xu hướng quản lý KT – ĐG kết quả học tập có thể tóm lược trong bảng sau: Bảng 1.
Những thay đổi trong xu hướng quản lý KT – ĐG KQHT của HS TT Xu hướng quản lý cũ Xu hướng quản lý mới 1 Quản lý việc kiểm tra đánh giá kết quả Quản lý kiểm tra đánh giá được thực thi trên giấy được thực hiện vào cuối kỳ hiện đa dạng trong suốt quá trình học 2 Quản lý nhấn mạnh đến vai trò của Quản lý nhấn mạnh đến vai trò chủ người kiểm tra, đánh giá động của học sinh 3 Quản lý việc lựa chọn câu hỏi và tiêu Quản lý việc lựa chọn câu hỏi và tiêu chí đánh giá không được nêu trước chí đánh giá được nêu rõ từ trước 4 Quản lý nhấn mạnh sự cạnh tranh Quản lý nhấn mạnh sự hợp tác 5 Quản lý quan tâm đến mục tiêu cuối Quản lý quan tâm đến kinh nghiệm cùng của việc giảng dạy của giáo viên học tập của học sinh 6 Quản lý chú trọng sản phẩm Quản lý chú trọng quá trình 7 Quản lý tập trung vào kiến thức sách vở Quản lý tập trung vào năng lực thực tế Những thay đổi nêu trên phản ánh rõ nét quan điểm mới về quản lý hoạt động KT – ĐG kết quả học tập của học sinh, trong đó người học (learner) và quá trình học tập (learning) là trung tâm của toàn bộ các hoạt động KT – ĐG. Sự ra đời của quan điểm này cùng với các xu hướng mới trong quản lý KT – ĐG đã tạo ra một sự thay đổi căn bản trong hệ thống lý luận về quản lý KT – ĐG. Nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra những yêu cầu về quản lý để nâng cao chất lượng KT- ĐG giáo dục trong quá trình dạy - học. Một số tài liệu nghiên cứu về KT- ĐG của các chuyên gia như: Nguyễn Đức Chính, Đo lường đánh giá trong GD, khoa sư phạm Hà Nội, 2004; Trần Thị Tuyết Oanh, Đo lường và đánh giá kết quả học tập, nhà xuất bản Đại học sư phạm Hà Nội, 2007; Dương Thiệu Tống, Trắc nghiệm và đo lường thành quả học tập, nhà xuất bản khoa học xã hội, 2005.
Ngoài ra, Bộ Giáo dục và Đào tạo đang thực hiện các chủ trương, đổi mới phương pháp, chương trình, nội dung đào tạo và cải tiến hoạt động KT- ĐG kết quả học tập của học sinh. Do đó có nhiều công trình khoa học nghiên cứu việc áp dụng phương pháp trắc nghiệm để KT- ĐG kết quả học tập của học sinh đã được triển khai ở các trường phổ thông trung học và cao đẳng trên toàn quốc như: công trình của Bùi Tuấn Khang (1997), Nguyễn Bảo Hoàng Thanh (1997, 1998, 2000, 2001, 2002, 2006, 2011), Phạm Thị Thu Hà (1998), Lê Phước Lượng (1998), Trương Hữu Đẳng (1999); Nguyễn Tăng Sang (1999). 9 Tuy nhiên trên địa bàn huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam chưa có tác giả nào nghiên cứu về quản lý hoạt động KT – ĐG kết quả học tập của HS tại các trường trung học cơ sở. Do vậy, đề tài nghiên cứu của luận văn là cần thiết trong việc quản lý hoạt động KT – ĐG kết quả học tập của HS, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả học tập của người học.
Các khái niệm chính của đề tài 1. Quản lý - Quản lý giáo dục a. Quản lý: Khoa học quản lý xuất hiện cùng với sự phát triển của xã hội loài người. Nó là phạm trù tồn tại khách quan, được ra đời một cách tất yếu do nhu cầu của mọi chế độ xã hội, mọi tổ chức, mọi quốc gia và mọi thời đại.
Từ điển Tiếng Việt viết: “Quản lý là hoạt động của con người tác động vào tập thể người khác để phối hợp điều chỉnh phân công thực hiện mục tiêu chung”. Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra”. Như vậy, quản lý là một khái niệm có nội hàm xác định song lâu nay thường có các cách định nghĩa, cách hiểu khác nhau và được thể hiện bằng thuật ngữ khác nhau. Thực chất của quản lý là gì? (hoặc quản lý trước hết, chủ yếu là gì?) cũng có những quan niệm không hoàn toàn giống nhau.
Tuy nhiên với sự phát triển của khoa học, quản lý đã cơ bản được làm sáng tỏ để có một cách hiểu thống nhất.