CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Vài thập kỉ trước đây, giáo dục theo định hướng phát triển năng lực người học đã được triển khai trong các nhà trường phổ thông ở những nước có nền giáo dục tiên tiến. Từ giữa những năm 1930, Tâm lý học Liên Xô (cũ) có nhiều công trình nghiên cứu về năng lực của các tác giả nổi tiếng như V. Côvaliốp… Từ những năm 1980 trở lại đây, vấn đề năng lực lại tiếp tục nhận được sự quan tâm của nhiều tác giả, thuật ngữ năng lực được xem xét đa chiều hơn.
Tiếp cận năng lực trong giáo dục được hình thành, phát triển rộng khắp ở Mĩ vào những năm 1970 và trở thành một phong trào với những nấc thang mới trong những năm 1990 ở Anh, Australia, New Zealand, xứ Wales… Sở dĩ có sự phát triển mạnh mẽ này là do rất nhiều học giả và các nhà thực hành phát triển nguồn nhân lực xem tiếp cận năng lực là cách thức có ảnh hưởng nhiều nhất, được ủng hộ mạnh mẽ nhất để cân bằng giáo dục và quá trình dạy học, là cách thức để chuẩn bị lực lượng lao động cho một nền kinh tế cạnh tranh toàn cầu. Như vậy, trên thế giới nghiên cứu về giáo dục và dạy học theo hướng phát triển năng lực người học đã xuất hiện từ nửa cuối thế kỷ trước và đã đạt được những thành tựu quan trọng, đóng góp không nhỏ vào quá trình cải cách giáo dục hiện đại. Ở Việt Nam, vấn đề năng lực và tiếp cận năng lực trong giáo dục cũng đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu. Từ những năm 80 của thế kỉ XX, 7 các nhà tâm lý học như Phạm Minh Hạc, Phạm Hoàng Gia, Trần Trọng Thủy và sau này là Nguyễn Quang Uẩn, Trần Quốc Thành… đã xem năng lực như là một thuộc tính nhân cách, cùng với xu hướng, khí chất và tính cách.
Đặc biệt, khi chương trình Giáo dục phổ thông được xây dựng theo định hướng phát triển năng lực thì đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Một số tác giả khác quan tâm nghiên cứu vấn đề quản lý giáo dục, quản lý dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học. Nghiên cứu của Trần Trung Dũng (2016) hướng đến mục tiêu đề xuất các giải pháp quản lý hoạt động dạy học ở trường THPT theo định hướng phát triển năng lực HS; trong đó, tác giả đề ra sáu nhóm giải pháp gồm: Kế hoạch hóa hoạt động dạy học; tổ chức hoạt động dạy học; xây dựng bộ tiêu chí đánh giá chất lượng hoạt động dạy học; bồi dưỡng nâng cao năng lực quản lý hoạt động dạy học. Một số tác giả khác tập trung vào nghiên cứu vận dụng dạy học phát triển năng lực vào dạy học các bộ môn cụ thể; đặc biệt nghiên cứu vấn đề quản lý dạy học bộ môn theo hướng tiếp cận năng lực.
Cấn Văn Đa (2018) nghiên cứu “Quản lý dạy học môn Toán theo định hướng phát triển năng lực HS ở trường THCS”; Nguyễn Thị Hạnh (2017) nghiên cứu “Quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh theo phát triển năng lực thực hành”. Trong đó quan tâm đến các giải pháp đổi mới quản lý hoạt động dạy học bộ môn, đổi mới phương pháp dạy học theo quan điểm phát triển năng lực, tích cực hóa hoạt động trí tuệ của HS, rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề. Trong lĩnh vực dạy học Ngữ văn, nhiều tác giả đã quan tâm nghiên cứu vấn đề đổi mới mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học theo hướng chú trọng đặc trưng, bản chất bộ môn, phát huy vai trò tích cực chủ động sáng tạo của HS. Bùi Mạnh Hùng, người trực tiếp tham gia xây dựng Chương trình 8 môn Ngữ văn 2018, đã đưa ra những đề xuất đổi mới từ quan niệm dạy học đến mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập.
Đỗ Ngọc Thống quan tâm đến vấn đề đổi mới dạy học Ngữ văn ở phổ thông theo định hướng phát triển năng lực người học. Tác giả đã nêu ra những quan niệm khoa học về năng lực và đánh giá năng lực; xác định hai nhóm năng lực cơ bản của bộ môn Ngữ văn là năng lực tiếp nhận văn bản và năng lực tạo lập văn bản; nêu ra những định hướng cơ bản về mục tiêu, phương thức đánh giá năng lực môn Ngữ văn và đề xuất những giải pháp cụ thể để đánh giá năng lực có hiệu quả thiết thực. Tạ Thị Tuyết Lan (2017) nghiên cứu “Quản lý hoạt động dạy học môn ngữ văn theo hướng phát triển năng lực học sinh ở trường Trung học phổ thông kỹ thuật Việt Trì, tỉnh Phú Thọ”, đã khẳng định năng lực chung là “năng lực cơ bản, thiết yếu để con người có thể sống và làm việc bình thường trong xã hội. Năng lực này được hình thành và phát triển do nhiều môn học, liên quan đến nhiều môn học, do đó có nơi nó còn được gọi là năng lực xuyên chương trình.
Ngay năng lực chung cũng lại được chia làm 3 phạm trù rộng: “năng lực sử dụng các công cụ tương tác hiệu quả với môi trường ví như năng lực sử dụng công nghệ thông tin hay năng lực sử dụng ngôn ngữ; năng lực hoạt động tương tác trong các nhóm phức hợp; năng lực hoạt động một cách tự chủ” [22, tr. Tác giả đã đề xuất phát triển năng lực giao tiếp trong môn Ngữ văn gồm các kỹ năng thành phần và 15 chỉ số hành vi của năng lực giao tiếp. Tóm lại, trước yêu cầu đổi mới nội dung và phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực nhằm triển khai thực hiện Chương trình Giáo dục phổ thông 2018, đã có khá nhiều những công trình nghiên cứu đổi mới công tác quản lý hoạt động dạy học, trong đó có quản lý hoạt động dạy học theo hướng phát triển năng lực HS. Một số đề án thạc sĩ ngành Quản lý giáo dục 9 cũng đã tập trung nghiên cứu đề xuất những biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả trong công tác quản lý hoạt động dạy học các bộ môn.
Trong lĩnh vực dạy học môn Ngữ văn cũng đã có một số học viên cao học quan tâm nghiên cứu đề xuất biện pháp quản lý dạy học môn Ngữ văn theo các cách tiếp cận khác nhau, trong đó có tiếp cận theo hướng phát triển năng lực người học, ở các cấp học khác nhau, trên những địa bàn nghiên cứu khác nhau. Tuy nhiên, cho đến nay, vẫn chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu về các biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo hướng phát triển năng lực HS ở các trường THCS tại thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai. Đây chính là vấn đề mà chúng tôi lựa chọn nghiên cứu để thực hiện đề án tốt nghiệp thạc sĩ ngành Quản lý giáo dục. Các khái niệm chính của đề án 1.
Hoạt động dạy học Dạy học là một quá trình sư phạm mang tính chất và đặc điểm xã hội phong phú, phức tạp với nhiều mối quan hệ qua lại nhằm hình thành và phát triển nhân cách và năng lực cho HS. Dạy học là một quá trình toàn vẹn có sự thống nhất giữa hai mặt của các chức năng hoạt động dạy và hoạt động học. “Dạy là sự điều khiển tối ưu hoá quá trình người học chiếm lĩnh nội dung dạy học, trong và bằng cách đó phát triển và hình thành nhân cách (năng lực, phẩm chất)”; “học là quá trình tự giác, tích cực, tự lực, chiếm lĩnh khái niệm khoa học (nội dung dạy học) dưới sự điều khiển sư phạm của GV” (Nguyễn Ngọc Quang). Bản chất của hoạt động dạy học là hệ thống những hành động phối hợp, tương tác giữa GV và HS, trong đó, dưới tác động chủ đạo của GV, HS tự giác tích cực, chủ động chiếm lĩnh hệ thống tri thức khoa học kỹ năng, kỹ xảo, phát triển năng lực nhận thức, năng lực hành động, hình thành thế giới quan khoa học và những phẩm chất của nhân cách.
10 Hoạt động dạy học có 3 đặc trưng cơ bản như sau: 1) Dạy học là một hoạt hoạt động kép gồm hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS. Trong đó, GV giữ vai trò chủ đạo; HS giữ vai trò chủ động, tự giác tích cực, độc lập và sáng tạo. 2) Hoạt động dạy và hoạt động học tồn tại trong sự thống nhất và tương tác qua lại lẫn nhau. 3) Hoạt động dạy và hoạt động học cùng hướng đến thực hiện mục tiêu dạy học, giáo dục.
Trong quá trình dạy học, nhiệm vụ của GV là phải tổ chức hoạt động nhận thức của HS trong học tập. Hoạt động nhận thức của HS trong học tập là nắm vững kiến thức, kĩ năng, qua đó hình thành và phát triển nhân cách và năng lực. Mọi quá trình nắm vững kiến thức đều gắn liền với hoạt động trí tuệ có ý thức của HS; hoạt động này có tác dụng thúc đẩy sự phát triển nhân cách toàn diện của các em. Quản lý hoạt động dạy học Quản lý hoạt động dạy học là một hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến quá trình dạy học, làm cho quá trình đó vận hành có khoa học, có tổ chức theo những quy luật khách quan nhằm đạt được mục tiêu dạy học đề ra.
Mục tiêu của quản lý hoạt động dạy học là nhằm đảm bảo thực hiện đầy đủ các mục tiêu, kế hoạch dạy học, nội dung chương trình theo đúng tiến độ và thời gian quy định, đảm bảo hoạt động dạy học đạt kết quả cao. Để quản lý hoạt động dạy học hiệu quả, nhà quản lý phải dựa trên cơ sở pháp lý và cơ sở lý luận và thực tiễn để điều hành hoạt động.