Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu về hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trưng học cơ sở Ở các nước Phương Tây như Mỹ, Anh, Pháp và Nga những năm đầu thế kỉ XX đã rất chú trọng hoạt động GDHN. Giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường góp phần phân luồng và phát triển NNL phục vụ nền CNH đất nước bấy giờ.
Các tác giả Keller và Viteles, 1937; Watts, 1966; Super, 1974 đề cập đến tác phẩm Pardson ở Hoa Kỳ trong những năm 1900, tác phẩm của Laby trong lựa chọn nhân sự ở Pháp năm 1910; nỗ lực của Gemelli trong lựa chọn nhân sự ở Ý năm 1912 và sự tập trung vào HN của Christiansen ở Bỉ năm 1911, 1912 và những tác phẩm tiên phong ở Gemeva và London năm 1914 và 1915 do Retuchlin 1964) miêu tả những nỗ lực ban đầu trong thiết lập tư vấn và HN ở Hoa Kỳ và Châu Âu [37]. Ngày nay, các quốc gia vẫn tiếp tục coi nhân tố con người là động lực của sự phát triển. Sự trở mình của các quốc gia như: Nhật Bản và Hàn Quốc là minh chứng cho việc đầu tư và phát triển NNL. Ở các nước phát triển hoạt động phân luồng HS sau THCS được chú trọng và “giúp cung cấp một lực lượng lao động đã qua đào tạo góp phần làm cho cơ cấu lao động XH, cả về cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề và cơ cấu vùng miền phù hợp với từng giai đoạn phát triển KT - XH của đất nước.
Giáo dục thường xuyên, GDHN có vai trò quan trọng giúp con người có điều kiện hướng đến đào tạo lao động tri thức và tự đào tạo suốt đời. Nhà trường phải thay khẩu hiệu đào tạo một lần cho một đời người” [5]. Ở nước ta, GDHN dạy nghề phổ thông thể hiện nay trong quan điểm GD của Đảng ta, Bác Hồ đã sớm chỉ ra “Nhà trường xã hội chủ nghĩa là nhà trường: 7 Học đi với lao động, lí luận đi với thực hành, cần cù đi với tiết kiệm”[21; tr 49 50; tr 55]. Theo tác giả Phạm Tất Dong “Đa số thanh niên không kiếm được việc làm do không biết nghề chiếm 67,4%” và nhấn mạnh “Chú trọng hình thành những năng lực nghề nghiệp cho thế hệ trẻ để họ tìm ra việc làm”[12], đồng thời “tiếp sau quá trình hướng nghiệp dứt khoát phải dạy nghề cho học sinh”[14;40].
Trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả Đặng Danh Ánh xác định “Cách mạng khoa học kĩ thuật đã thúc đẩy tận gốc lao động và do đó thay đổi những đặc điểm và cách đào tạo con người ở trong nhà trường. Cần phải trang bị cho học sinh không chỉ kiến thức và kỹ thuật công nghệ nhất định mà còn hình thành có hiệu quả phương tiện phát triển tư duy sáng tạo kỹ thuật, tính độc lập trí óc, hình thành kĩ năng, trong thời gian tối thiểu thu được lượng thông tin tối đa và năng lực tự học”[1; tr27]. Công trình khoa học của tác giả Nguyễn Văn Hộ đề cập đến vấn đề “”[20;tr 35]. Qua công trình tác giả đã nêu ra hệ thống lí luận cơ bản về GDHN phù hợp với hoàn cảnh phát triển KT - XH của đất nước.
Từ đó đề xuất những biện pháp phối hợp giữa nhà trường, cơ sở sản xuất, cơ sở giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp, dạy nghề cho học sinh phổ thông. Từ những công trình kể trên có thể thấy các nhà khoa học trong nước cũng đã rất quan tâm đến hoạt động GDHN ở nhà trường phổ thông. Trong đó, nhiều nội dung về dạy nghề cho HS và phân luồng cũng đã được tập trung nghiên cứu làm rõ. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu kể trên phần lớn tập trung vào việc đổi mới tư tưởng, quan điểm và một số mặt về nội dung, chương trình, tổ chức quản lý hoạt động dạy học nghề cho học sinh phổ thông trong điều kiện nền KT - XH ở các nước phát triển cao hơn nước ta.
Tóm lại, GDHN trong nhà trường phổ thông là một vấn đề được nghiên cứu sâu rộng. Tuy nhiên, để nâng cao chất lượng hướng tới phân luồng và sử dụng được NNL đáp ứng yêu cầu của XH cũng cần phải có thêm những công trình nghiên cứu mang tính kế thừa gắn liền với từng giai đoạn lịch sử. Đây là định hướng cho hoạt động nghiên cứu của tác giả luận văn. Những nghiên cứu về quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học cơ sở theo định hướng phát triển nguồn nhân lực Trong xu thế toàn cầu hóa và sự phát triển của Công nghệ, hệ thống GDNN của các quốc gia trên thế giới luôn giữ vai trò rất quan trọng trong việc cung ứng NNL có chất lượng nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển KT - XH của mỗi quốc gia (Gelissli Y.
“Vì vậy, các cơ sở GDNN của mỗi quốc gia trong quá trình quản lý đào tạo nghề cần phải linh hoạt thích ứng, đổi mới sáng tạo trong dạy hướng nghiệp, đảm bảo cho người học tốt nghiệp có kiến thức, kĩ năng đáp ứng được yêu cầu thị trường lao động trong thế giới việc làm” (ILO and OECD, 2018). Ở nước Anh, mục tiêu chính của hệ thống đào tạo nghề là đào tạo chất lượng cao đáp ứng nhu cầu kỹ năng nghề cho ngành công nghiệp; đảm bảo sự hợp tác hiệu quả giữa đơn vị sử dụng lao động và cơ sở đào tạo trong quá trình doanh nghiệp gắn với việc làm, để người học có thể đáp ứng và nâng cao được năng lực nghề ở hiện tại và tương lai, tạo môi trường thuận lợi để người học được tham gia học nghề và đào tạo lại nhằm đáp ứng yêu cầu thị trường lao động, đầu tư vào các sáng kiến phát triển nghề nghiệp và chiến lược tuyển dụng học nghề, qua đó nâng cao chất lượng đào tạo của các cơ sở đào tạo (British Council, 2021). Về mô hình đào tạo NNL chất lượng cao KOSEN ở Nhật Bản, Aburatani H. và cộng sự (2020) cho rằng: mô hình này đáp ứng được nhu cầu thực tiễn của các dạy nghề và đảm bảo tỷ lệ cao sinh viên có việc làm sau tốt nghiệp.
Mô hình KOSEN bên cạnh dạy lý thuyết, tập trung nhiều đến kỹ năng thực hành, khả năng sáng tạo của người học thông qua các hoạt động thực hành, nghiên cứu tại dạy nghề. Đào tạo theo mô hình KOSEN có tính chất phân luồng đào tạo học sinh THCS, THPT gắn với đào tạo NNL chất lượng cao cho các doanh nghiệp. HS có thể học liên thông theo các cấp học để ra trường có bằng Cao đẳng, Đại học. Singapore là quốc gia thành công với chính sách phát triển NNL trong ĐTN.
Ở đây, có đến 65% HSPT phân luồng chuyển sang học nghề. Để khuyến khích 9 việc học nghề và hỗ trợ đào tạo nghề, chính phủ Singapore đầu tư rất lớn cho GDNN, hệ thống GDNN gồm 3 trường cao đẳng thuộc viện GD kĩ thuật (ITE) và một số trường kỹ nghệ, việc phát triển, sắp xếp hệ thống GDNN được gắn với tình hình phát triển kinh tế quốc gia, có mối qua hệ chặt chẽ với các doanh nghiệp trong và ngoài nước từ khâu tham gia tuyển dụng, đào tạo và cung ứng NNL chất lượng cho đối tác, những thành công nổi trội của các cơ sở GDNN đã làm thay đổi được nhận thức cộng đồng và hình ảnh ucar các cơ sở GDNN được tôn vinh trong xã hội (Seng L. Phần lớn các quốc gia như Hàn Quốc, Campuchia, Lào, Indonesia, Myanmar, Thái Lan, Philippines… xây dựng chuẩn năng lực nghề nghiệp dựa trên yêu cầu nghề nghiệp của thị trường lao động. Do vậy, các CSĐT thiết kế chương trình đào tạo theo chuẩn nghề nghiệp sát với yêu cầu nghề nghiệp trên thực tế và đánh giá năng lực người học dựa trên các chuẩn này nhằm đảm bảo độ tin cậy về chất lượng đào tạo.
Mô hình của các cơ sở GDNN đào tạo theo chuẩn năng lực nghề nghiệp ở Philippin là một minh chứng điển hình. Tại Việt Nam, đã có nhiều nghiên cứu về QL hoạt động GDHN cho học sinh THCS theo định hướng phát triển NNL: Với đề tài “Quản lý đào tạo nghề ở các trường dạy nghề theo hướng đáp ứng nhu cầu xã hội”, Nguyễn Thị Hằng (2013) đã đề cập đến quy trình QL các bước của chu trình đào tạo từ xác định nhu cầu đào tạo, lập kế hoạch và thiết kế đào tạo, triển khai và đánh giá kết quả đào tạo và sau đào tạo để đáp ứng được nhu cầu XH. Tác giả đã chỉ ra một số điểm nghẽn trong quản lí đào tạo nghề theo hướng đáp ứng nhu cầu XH như: Các trường nghề đào tạo theo “hướng cung” là chủ yếu, nội dung, chương trình, giáo trình các nghề nghề đào tạo chưa sát với thực tiễn. Do vậy, các trường nghề phải đổi mới quản lý đào tạo theo “hướng cầu” để đáp ứng được nhu cầu XH.
Trong đề tài “Quản lý hoạt động liên kết đào tạo của trường Cao đẳng kỹ thuật với doanh nghiệp”, Nguyễn Ngọc Phương (2017) đã trình bày các mô hình 10 liên kết giữa nhà trường với doanh nghiệp, nội dung liên kết liên quan đến QL quá trình đào tạo như thống nhất về mục tiêu, nội dung, chương trình đào tạo, trong tổ chức, QL quá trình đào tạo; phát triển đội ngũ giảng viên và CBQL, huy động CSVC, trang thiết bị, nguồn lực tài chính từ doanh nghiệp phục vụ cho hoạt động đào tạo của trường, kiểm tra, đánh giá chất lượng đào tạo, công nhận sinh viên tốt nghiệp, xét tuyển và bố trí việc làm cho học sinh, sinh viên sau khi tốt nghiệp. Với những doanh nghiệp liên kết nêu trên, tác giả cũng đã nêu lên một số hạn chế, nguyên nhân của quá trình liên kết và đề xuất một số giải pháp khắc phục và nâng cao hiệu quả liên kết giữa nhà trường với doanh nghiệp.