CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC CỦA MỘT TỔ CHỨC 1. Tổng quan về chiến lược và quản trị chiến lược 1. Khái niệm về chiến lược Thuật ngữ chiến lược xuất phát từ lĩnh vực quân sự với ý nghĩa để chỉ ra các kế hoạch lớn và dài hạn trên cơ sở chắc chắn rằng cái gì đối phương có thể làm được, cái gì đối phương không thể làm được. Từ đó, thuật ngữ chiến lược kinh doanh ra đời, theo quan điểm truyền thống chiến lược là việc xác định những mục tiêu cơ bản dài hạn của một tổ chức để từ đó đưa ra các chương trình hành động cụ thể cùng với việc sử dụng các nguồn lực một cách hợp lý để đạt được các mục tiêu đã đề ra.
Theo Alfred Chandler(1): “Chiến lược bao gồm những mục tiêu cơ bản dài hạn của một tổ chức, đồng thời lựa chọn cách thức hoặc tiến trình hành động, phân bổ nguồn lực thiết yếu để thực hiện các mục tiêu đó”. Glueck(2): “Chiến lược là một kế hoạch mang tính thống nhất, tính toàn diện và tính phối hợp, được thiết kế đảm bảo rằng các mục tiêu cơ bản của tổ chức sẽ được thực hiện”. David(3): “Chiến lược là những phương tiện đạt tới những mục tiêu dài hạn. Chiến lược kinh doanh có thể gồm có sự phát triển về địa lý, đa dạng hóa hoạt động, sở hữu hóa, phát triển sản phẩm, thâm nhập thị trường, cắt giảm chi tiêu, thanh lý và liên doanh”.
Porter(4): “Chiến lược là nghệ thuật xây dựng các lợi thế cạnh tranh vững chắc để phòng thủ”. Như vậy, ta thấy rằng dù có quan niệm như thế nào về chiến lược thì cũng có mục đích chung, đó là nhằm đảm bảo sự thành công của tổ chức và chiến lược của một tổ chức chính là sản phẩm kết hợp được những gì môi trường có, những gì tổ chức có thể và những điều tổ chức mong muốn. Trường Đại học Bách khoa Hà Nội 3 Cao học QTKD 2011-2013 Bùi Văn Bình Luận văn thạc sỹ Như vậy, theo tôi chiến lược là việc xác định mục tiêu dài hạn, cơ bản của tổ chức, lựa chọn đường lối hoạt động và chính sách điều hành việc thu thập, sử dụng và bố trí các nguồn lực để đạt được các mục tiêu cụ thể. Mục đích của hoạch định chiến lược là "dự kiến tương lai trong hiện tại" và dựa vào chiến lược, các nhà quản lý có thể lập ra các kế hoạch cho những năm tiếp theo.
Tuy nhiên, quá trình đó phải có sự kiểm soát chặt chẽ, phải được hiệu chỉnh trong từng bước đi. Một chiến lược vững mạnh luôn cần đến khả năng, sự điều hành linh hoạt, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để có thể chiếm được lợi thế chắc chắn so với đối thủ cạnh tranh với chi phí có thể chấp nhận được. Để hoạch định chiến lược thực sự có chỗ đứng và phát huy tác dụng trong các tổ chức cần có thêm một số yếu tố chìa khoá đảm bảo thành công, đó là thiện chí hay cam kết của ban lãnh đạo trong việc tư duy dài hạn và luôn tính đến các suy nghĩ này trong từng hành động, điều này đòi hỏi các nhà lãnh đạo một mặt phải dành thời gian cho việc tổ chức các cuộc họp riêng về chủ đề chiến lược cũng như dành mối quan tâm thường trực cho việc cân nhắc các quyết định hàng ngày trong khuôn khổ các lựa chọn dài hạn của tổ chức, bên cạnh đó cần cụ thể hoá các mục tiêu và phương tiện cho việc thực hiện chiến lược bằng một loạt các mục tiêu, quyết định và hành động theo các lịch trình do chính họ đặt ra và thiện chí của mọi cấp độ quản lý, tránh nguy cơ không thừa nhận của cán bộ cấp dưới. Thực tế cho thấy, công tác hoạch định chiến lược lần đầu tiên sẽ thuận lợi hơn nếu nó được thực hiện dưới sự hướng dẫn của các chuyên gia bên ngoài, sau đó cán bộ tham mưu nội bộ sẽ dần làm chủ qui trình này.
Vai trò của chiến lược Chiến lược giúp cho tổ chức xác định sứ mạng và mục tiêu, lựa chọn phương hướng để đạt được mục tiêu và cho biết vị trì của tổ chức trong quá trình thực hiện mục tiêu. Do đó giúp các nhà quản trị và nhân viên biết được các công việc cần làm để đạt được mục tiêu. Giúp tổ chức thấy rõ cơ hội và nguy cơ từ môi trường bên ngoài, cùng với các điểm mạnh và điểm yếu của nội bộ tổ chức ở hiện tại và tương lai để phát huy Trường Đại học Bách khoa Hà Nội 4 Cao học QTKD 2011-2013 Bùi Văn Bình Luận văn thạc sỹ những điểm mạnh, hạn chế các điểm yếu nhằm tận dụng được cơ hội và giảm thiểu những nguy cơ cho tổ chức. Giúp tổ chức đưa ra các quyết định để đối phó phù hợp với môi trường hoạt động, nâng cao hiệu quả hoạt động, đưa tổ chức đi lên.
Giúp tổ chức lựa chọn lợi thế cạnh tranh thích hợp trong môi trường hoạt động luôn thay đổi, tìm ra cách tồn tại và tăng trưởng để nâng cao vị thế cạnh tranh của tổ chức. Phân loại chiến lược Chiến lược có thể phân theo từng cấp độ khác nhau: - Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của cả nước (thường là 10 năm và tầm nhìn 10 năm tiếp theo); - Chiến lược phát triển các ngành, lĩnh vực của cả nước (bao gồm cả các phân ngành của ngành và lĩnh vực đó), cụ thể như sau: công nghiệp; nông, lâm nghiệp; thuỷ sản; thương mại; du lịch; bưu chính viễn thông; giao thông vận tải; thuỷ lợi; xây dựng (cấp thoát nước, phát triển đô thị); y tế; giáo dục, đào tạo; thể dục, thể thao; khoa học và công nghệ; tài nguyên (bao gồm tài nguyên đất, tài nguyên nước và tài nguyên khoáng sản); quốc phòng, an ninh; - Chiến lược phát triển của một tổ chức, một doanh nghiệp. Chiến lược phát triển của một tổ chức chia thành: Chiến lược tổng quát: là chiến lược kinh doanh của tổ chức vạch ra mục tiêu phát triển tổ chức trong khoảng thời gian dài. Nội dung của chiến lược tổng quát bao gồm các nội dung sau: - Chiến lược tăng trưởng (tăng khả năng sinh lợi và lợi nhuận): Trong trường hợp không có đối thủ cạnh tranh và kể cả có đối thủ cạnh tranh, mọi tổ chức đều muốn tối đa hóa lợi nhuận với chi phí thấp nhất.
Mục tiêu tỷ lệ sinh lợi của đồng vốn và lợi nhuận càng cao càng đạt được mục tiêu của mọi tổ chức trong kinh doanh. - Tạo thế lực trên thị trường: Thế lực trên thị trường của tổ chức thường được đo bằng thị phần mà tổ chức kiểm soát được, tỷ trọng hàng hóa hay dịch vụ của tổ Trường Đại học Bách khoa Hà Nội 5 Cao học QTKD 2011-2013 Bùi Văn Bình Luận văn thạc sỹ chức so với tổng lượng cung về hàng hóa, dịch vụ đó trên thị trường, khả năng tài chính, khả năng liên doanh liên kết trong, ngoài nước, mức độ phụ thuộc của các tổ chức khác vào các mặt họat động của tổ chức đối với khách hàng. - Bảo đảm an toàn trong kinh doanh: kinh doanh luôn gắn liền với quy luật họat động của thị trường. Chiến lược kinh doanh luôn gắn với cạnh tranh và khả năng thu lợi của tổ chức.
Rủi ro trong kinh doanh khó có thể lường trước được, xu hướng các nhà quản trị cần có chiến lược kinh doanh để hạn chế những rủi ro đó. Chiến lược bộ phận: Để đạt được mục tiêu chiến lược tổng quát tổ chức cần vạch ra và tổ chức thực hiện các chiến lược bộ phận. Dựa vào căn cứ xây dựng chiến lược có thể chia ra ba loại chiến lược bộ phận : - Chiến lược dựa vào khách hàng - Chiến lược dựa vào đối thủ cạnh tranh - Chiến lược dựa vào thế mạnh của công ty Dựa vào nội dung của chiến lược có thể chia ra: - Chiến lược khai thác các khả năng tiềm tàng (chiến lược tìm kiếm các cơ hội thuận lợi của thị trường.) - Chiến lược tập trung vào các yếu tố then chốt - Chiến lược tạo ra các ưu thế tương đối - Chiến lược sáng tạo tấn công Dựa vào các họat động tiếp thị có hệ thống có thể chia ra: - Chiến lược sản phẩm - Chiến lược giá - Chiến lược phân phối - Chiến lược giao tiếp khuếch trương Chiến lược chức năng : Cấp độ chức năng của tổ chức đề cập đến các bộ phận tác nghiệp. Chiến lược ở cấp độ này liên quan đến các quy trình tác nghiệp của các hoạt động kinh doanh và các bộ phận của chuỗi giá trị.
Chiến lược ở các chức năng marketing, tài chính, nguồn nhân lực hay nghiên cứu và phát triển nhằm vào Trường Đại học Bách khoa Hà Nội 6 Cao học QTKD 2011-2013 Bùi Văn Bình Luận văn thạc sỹ phát triển và phối kết hợp các nguồn lực mà thông qua đó các chiến lược ở cấp đơn vị kinh doanh được thực hiện một cách hiệu quả. Chiến lược bộ phận chức năng của tổ chức phụ thuộc vào chiến lược ở các cấp cao hơn. Đồng thời nó đóng vai trò như yếu tố đầu vào cho chiến lược cấp đơn vị kinh doanh và chiến lược tổng thể của doanh nghiệp. Ví dụ như việc cung cấp thông tin về nguồn lực và các năng lực cơ bản mà chiến lược ở các cấp cao hơn cần phải dựa vào; các thông tin về khách hàng, sản phẩm và cạnh tranh.
Một khi chiến lược ở các cấp cao hơn được thiết lập, các bộ phận chức năng sẽ triển khai đường lối này thành các kế hoạch hành động cụ thể và thực hiện đảm bảo sự thành công của chiến lược tổng thể. Phạm vi nghiên cứu của đề tài là chiến lược chức năng của một tổ chức. Quản trị chiến lược Theo Alfred Chander(5): “Quản trị chiến lược là tiến trình xác định các mục tiêu cơ bản dài hạn của tổ chức, lựa chọn cách thức hoặc phương hướng hành động và phân bố tài nguyên thiết yếu để thực hiện các mục tiêu đó”. David(6): “Quản trị chiến lược có thể được định nghĩa như là một nghệ thuật và khoa học thiết lập, thực hiện và đánh giá các quyết định liên quan nhiều chức năng cho phép một tổ chức đạt được những mục tiêu đề ra”.
Theo John Pearce II và Richard B. Robinson (7): “Quản trị chiến lược là một hệ các quyết định và hành động để hình thành và thực hiện các kế hoạch nhằm đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp”.