CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Nhân lực Nhân lực là một nguồn lực quan trọng của mọi tổ chức. Trong doanh nghiệp, mỗi người lao động đều được giao đảm nhận những công việc nhất định và có chức danh nhất định.
Vì vậy, những người này còn được coi là những nhân lực như: các nhà quản trị, nhân viên, người lao động trực tiếp và gián tiếp. Nhân lực của doanh nghiệp được nghiên cứu trong mối quan hệ chặt chẽ với công việc nhất định mà họ được giao cũng như tập thể mà họ là thành viên. Nhân lực của một tổ chức được hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định. Theo giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực, Trường Đại học Kinh tế quốc dân (2012) do PGS.TS Trần Xuân Cầu và PGS.TS Mai Quốc Chánh chủ biên đã viết: “Nhân lực là sức lực con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động.
Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một lúc nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động – con người có sức lao động”. Theo giáo trình Quản trị nhân lực, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (2012) do tác giả Nguyễn Ngọc Quân và Nguyễn Vân Điềm chủ biên đã viết: “Nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực” [tr. Thể lực chỉ là sức khỏe của thân thể, nó phụ thuộc vào sức vóc, tình trạng sức khỏe của từng người, mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống, chế độ làm việc, nghỉ ngơi, chế độ y tế. Thể lực con người còn tùy thuộc vào tuổi tác, thời gian công tác, giới tính… Trí lực chỉ sức suy nghĩ, sự hiểu biết, sự tiếp thu kiến thức, tài năng, năng khiếu cũng như quan điểm, lòng tin, nhân cách… của từng con người.
8 Như vậy, một cách tổng quát nhân lực chính là lao động của con người mà không máy móc nào có thể thay thế được. Nó là tài sản quý giá nhất của doanh nghiệp. Thành công của một doanh nghiệp phụ thuộc vào chất lượng và trình độ của nhân lực. Để đạt được những mục tiêu đặt ra cần liên kết chặt chẽ các chính sách nhân sự và các mục tiêu kinh doanh.
Chính vì vậy, quản trị nhân lực được xem là yếu tố quan trọng hàng đầu trong mỗi doanh nghiệp. Quản trị nhân lực Theo giáo trình Quản trị nhân lực, Trường Đại học Thương Mại (2010) do tác giả Hoàng Văn Hải và Vũ Thùy Dương chủ biên đã viết: “Quản trị nhân lực là tổng hợp những hoạt động quản trị liên quan đến việc tạo ra, duy trì, phát triển và sử dụng có hiệu quả yếu tố con người trong tổ chức nhằm đạt được mục tiêu chung của doanh nghiệp” [6, tr. Theo giáo trình Quản trị nhân lực, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (2012) do tác giả Nguyễn Ngọc Quân và Nguyễn Vân Điềm chủ biên đã viết: “Quản trị nhân lực là tất cả các hoạt động của tổ chức để xây dựng, phát triển, sử dụng, đánh giá, bảo toàn và giữ gìn một lực lượng lao động phù hợp với yêu cầu của tổ chức cả về số lượng và chất lượng, quản trị nhân lực đóng vai trò trung tâm trong việc thành lập các tổ chức, giúp cho tổ chức tồn tại, phát triển trong cạnh tranh” [5, tr. Như vậy, dù hiểu theo nghĩa nào thì bản chất của quản trị nhân lực vẫn không đổi, quản trị nhân lực là công tác quản lý con người trong phạm vi nội bộ một doanh nghiệp, là sự đối xử của doanh nghiệp với người lao động.
Hay nói cách khác, quản trị nhân lực chịu trách nhiệm về việc đưa con người vào tổ chức giúp cho họ thực hiện công việc, thù lao cho sức lao động của họ và giải quyết các vấn đề phát sinh. Quản trị nhân lực trong tổ chức chủ yếu tập trung vào bốn nội dung cơ bản: Tuyển dụng nhân lực; Bố trí, sử dụng nhân lực; Đào tạo, phát triển nhân lực; Đãi ngộ nhân lực. Trong đó, đào tạo nhân lực là một khâu quan trọng không thể thiếu của quản trị nhân lực (xem hình 1.1) 9 MÔI TRƯỜNG QTNL Tuyển dụng NL Bố trí & sử dụng Mục tiêu của DN Đãi ngộ NL Đào tạo, phát triển NL Hình 1. Những nội dung cơ bản của quản trị nhân lực Nguồn: Hoàng Văn Hải, Vũ Thùy Dương (2010) Trong đề tài này khái niệm quản trị nhân lực được lựa chọn theo giáo trình Quản trị nhân lực, Trường Đại học Thương Mại (2010) do tác giả Hoàng Văn Hải và Vũ Thùy Dương làm cơ sở nghiên cứu.
Đào tạo nhân lực Theo giáo trình Quản trị nhân lực, Trường Đại học Thương Mại (2010) do tác giả Hoàng Văn Hải và Vũ Thùy Dương chủ biên đã viết: “Đào tạo nhân lực là quá trình cung cấp các kiến thức, hoàn thiện các kỹ năng, rèn luyện các phẩm chất nghề nghiệp cho người lao động trong doanh nghiệp nhằm đáp ứng yêu cầu trong quá trình thực hiện công việc của họ ở các thời điểm hiện tại và tương lai” [6, tr. Theo giáo trình Quản trị nhân lực, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (2012) do tác giả Nguyễn Ngọc Quân và Nguyễn Vân Điềm chủ biên đã viết: “Đào tạo được hiểu là các hoạt động học tập nhằm giúp cho người lao động có thể thực hiện có hiệu quả hơn chức năng nhiệm vụ của mình” [5, tr. Theo giáo trình Quản trị nhân lực, Trường Đại học Giao thông vận tải (2011) do tác giả Trần Kim Dung chủ biên đã viết: “Đào tạo là bất cứ nỗ lực nào để cải thiện kết quả của nhân viên, dựa trên công việc hiện nay họ đang nắm giữ hoặc công việc nào đó có liên quan” [tr. Điều này thường có nghĩa là những thay đổi về mặt kiến thức, những kỹ năng, quan điểm hoặc thái độ cụ thể.
Để đạt được hiệu quả, việc tạo nên liên quan đến kinh 10 nghiệm học tập, là một hoạt động có tổ chức và được thiết kế để đáp ứng nhu cầu đã nhận biết. Nói cách khác, nên thiết kế việc đào tạo để đáp ứng nhu cầu của tổ chức trong khi vẫn đáp ứng được nhu cầu của nhân viên. Đào tạo nhân lực là một hoạt động có tổ chức và được thực hiện trong một thời gian nhất định, nhằm đem đến sự thay đổi về thể lực và trí lực của con người. - Là quá trình học tập để con người chuẩn bị cho tương lai, để họ thể thuyên chuyển tới công việc mới trong thời gian thích hợp.
- Là quá trình học tập nhằm mở ra cho cá nhân một công việc mới dựa trên những định hướng tương lai của tổ chức. Từ các quan điểm đó, tác giả đi theo khái niệm đào tạo nhân lực của Hoàng Văn Hải và Vũ Thùy Dương, được rút ra: đào tạo nhân lực là quá trình học tập nhằm giúp cho người lao động tiếp thu và rèn luyện các kỹ năng cần thiết để thực hiện có hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình. Đào tạo nhân lực là hoạt động cần thiết cho sự thành công của tổ chức và sự phát triển của con người. Việc đào tạo không chỉ thực hiện bên trong tổ chức mà còn được thực hiện bên ngoài, như học việc, học nghề… Kết quả của quá trình đào tạo nhân lực sẽ góp phần nâng cao cả về số lượng, chất lượng nhằm phát huy, khơi dậy những tiềm năng con người, phát triển toàn bộ cả năng lực vật chất và năng lực tinh thần, tạo dựng và hoàn thiện về đạo đức, tay nghề, về tâm hồn và hành vi, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu nhân lực cho doanh nghiệp.
Công tác đào tạo có thể được xem là yếu tố cơ bản nhằm thực hiện các mục tiêu chiến lược của doanh nghiệp, là nhiệm vụ trọng tâm của công tác quản trị nhân lực và cần được quan tâm đúng mức trong doanh nghiệp. Công tác đào tạo nhân lực Từ các nội dung tổng quan về đào tạo nhân lực của tác giả Nguyễn Ngọc Quân, Nguyễn Vân Điềm (2012); Trần Kim Dung (2011) và Hoàng Văn Hải, Vũ Thùy Dung (2010), có thể hiểu: Công tác đào tạo nhân lực là một quá trình bao gồm việc xác định nhu cầu đào tạo nhân lực; xây dựng kế hoạch đào tạo nhân lực; tổ chức triển khai đào tạo nhân 11 lực và đánh giá thực hiện đào tạo nhân lực nhằm góp phần thực hiện mục tiêu đào tạo nhân lực. Nội dung công tác đào tạo nhân lực trong doanh nghiệp Công tác đào tạo nhân lực là một hoạt động xuyên suốt quá trình hình thành và phát triển của tổ chức. Do đó, các cấp lãnh đạo cần xây dựng chiến lược để đưa ra một kế hoạch tổng thể về đào tạo cho từng giai đoạn nhất định.
Nội dung công tác đào tạo nhân lực trong doanh nghiệp bao gồm 4 nội dung chính bao gồm: Xác định nhu cầu đào tạo; Lập kế hoạch đào tạo; Triển khai thực hiện đào tạo; Đánh giá đào tạo nhân lực. Xác định nhu cầu đào tạo nhân lực Xác định nhu cầu là bước đầu tiên và rất quan trọng trong hoạt động đào tạo. Xác định nhu cầu nhằm trả lời cho câu hỏi ai cần được đào tạo? Khi nào, ở bộ phận nào cần phải đào tạo, đào tạo kỹ năng nào, cho loại lao động nào và bao nhiêu người? Nhu cầu đào tạo được xác định dựa trên việc phân tích nhu cầu của tổ chức, các yêu cầu về kiến thức, kỹ năng cần thiết cho công việc và phân tích trình độ kĩ năng, kiến thức hiện có của người lao động. Tùy thuộc vào từng đối tượng cụ thể khác nhau mà nhu cầu đào tạo khác nhau.
Vì vậy, cần căn cứ vào tình hình thực tế của tổ chức để xác định nhu cầu đào tạo. Khi xác định nhu cầu đào tạo cần phải dựa vào một số tiêu chí sau: Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp: Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp cho biết mục tiêu của doanh nghiệp trong từng giai đoạn phát triển, những mục tiêu này đặt ra các yêu cầu khác nhau về trình độ, năng lực chuyên môn… Đối với tất cả thành viên trong doanh nghiệp để thích ứng với sự thay đổi của tổ chức, nhằm thực hiện tốt nhất mục tiêu đã đề ra. Mục tiêu của đào tạo là nhằm thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp. Chiến lược nhân lực của doanh nghiệp: Ở mỗi thời kỳ, doanh nghiệp thường quy hoạch nhân sự để thực hiện các chiến lược kinh doanh.