phần mở đầu, kết luận, mục lục và các danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chƣơng sau: Chƣơng I : Cơ sở lý luận. Chƣơng II: Thực trạng công tác đào tạo nguồn nhân lực tại Công ty Cổ phần Nội thất Ân Dƣơng Minh. Chƣơng III: Giải pháp hoàn thiện công tác đào tạo nguồn nhân lực tại Công ty Cổ phần Nội thất Ân Dƣơng Minh trong thời gian đến. Tổng quan tài liệu tham khảo Tại Việt Nam, đã có nhiều ngƣời quan tâm và nghiên cứu về nguồn nhân lực và Đào tạo nguồn nhân lực theo nhiều cấp độ khác nhau.
Trong bối cảnh nền kinh tế đang phát triển và thị trƣờng lao động chƣa hình thành rõ nét, nên đa số công trình nghiên cứu có hƣớng tập trung xem xét vấn đề phát triển nguồn nhân lực tầm vĩ mô hoặc gắn đào tạo nguồn nhân lực với giải quyết công ăn việc làm, phục vụ chiến lƣợc phát triển kinh tế của đất nƣớc hoặc của ngành kinh tế hoặc địa phƣơng với những giải pháp mang tính xã hội hóa. Với mong muốn góp phần xây dựng và phát triển doanh nghiệp sản xuất hàng nội thất ngày càng lớn mạnh đủ sức cạnh tranh trong nền kinh tế thị trƣờng hiện nay. Nhận thấy tính thực tiễn, sự cần thiết và tầm quan trọng của công tác đào tạo nguồn nhân lực cho Công ty Cổ phần Nội thất Ân Dƣơng Minh trong thời điểm hiện nay nên đã quyết định lựa chọn đề tài này với 4 mong muốn sẽ đƣa ra đƣợc những giải pháp thiết thực và hữu ích nhằm góp phần vào định hƣớng phát triển của Công ty trong thời gian sắp đến. Luận văn đƣợc nghiên cứu tập trung vào những vấn đề sau: - Nghiên cứu các cơ sở lý thuyết về nguồn nhân lực và đào tạo nguồn nhân lực, đồng thời phân tích thực trạng về đào tạo nguồn nhân lực tại Công ty trong thời gian qua.
- Nghiên cứu những nguyên nhân, hạn chế trong quá trình đào tạo nguồn nhân lực của Công ty trong thời gian qua. - Từ đó, đề xuất những giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác đào tạo nguồn nhân lực của Công ty Cổ phần Nội thất Ân Dƣơng Minh trong thời gian sắp đến. Để thực hiện, đề tài vận dụng các phƣơng pháp tiếp cận thực tế, phƣơng pháp phân tích và tổng hợp các nguồn tài liệu, các hoạt động thực tiễn tại Công ty Cổ phần Nội thất Ân Dƣơng Minh cùng với các kiến thức đƣợc trang bị. Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã tham khảo một số tài liệu và công trình nghiên cứu đƣợc công bố nhƣ sau: Quản trị nguồn nhân lực – Chủ biên: TS.
Nguyễn Quốc Tuấn. Đồng tác giả: TS. Đoàn Gia Dũng, ThS. Đào Hữu Hòa, ThS.
Nguyễn Thị Loan, ThS. Nguyễn Phúc Nguyên, ThS. Nguyễn Thị Bích Thu, Nxb Thống kê, TP. Tác giả đã dựa vào cơ sở tài liệu để xây dựng cở sở lý luận và xây dựng giải pháp cho luận văn.
Qua đó, tác giả đã thu thập và hệ thống lại các kiến thức đào tạo nguồn nhân lực một cách bài bản. Nguyễn Quốc Tuấn – Trƣờng Đại học Kinh tế Đà Nẵng - Bài viết “Hƣớng dẫn thực hiện đề tài Đào tạo Nguồn nhân lực” , (2012). Dựa vào bài viết trên, tác giả đã vận dụng những kiến thức thu thập đƣợc từ bài viết vào việc tiến hành thực hiện đề tài liên quan đến đào tạo nguồn nhân lực một cách bài bản. Tác giả đã tiến hành phân tích rõ ràng các yêu cầu cần thiết trong quá 5 trình thực hiện đào tạo nguồn nhân lực.
Hệ thống lại kiến thức nguồn nhân lực và đào tạo nguồn nhân lực một cách khoa học. Tác giả đã áp dụng nhận định đào tạo nguồn nhân lực thƣờng đề cập đến tiếp cận hệ thống, theo cách tiếp cận này, đào tạo đƣợc tiến hành theo các bƣớc có cấu trúc rõ ràng, chặt chẽ, từ bƣớc đánh giá nhu cầu đào tạo cho đến đánh giá đào tạo vào việc thực hiện luận văn. Đào tạo nhằm hƣớng đến kỹ năng cụ thể, đạt đến mức độ nhất định về kỹ năng, kiến thức và trong phạm vi thời gian xác định.TS Võ Xuân Tiến - Bài báo “Một số vấn đề về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực” – Số 5 Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại học Đà Nẵng, (2010). Qua bài báo trên, tác giả đã tìm hiểu đƣợc vấn đề đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cần phải cố gắng đáp ứng các yêu cầu sau: (1) cải tiến cơ cấu nguồn nhân lực, điều này có ý nghĩa là khi chiến lƣợc, mục tiêu kinh doanh của tổ chức thay đổi thì cơ cấu nguồn nhân lực phải thay đổi tƣơng ứng; (2) phát triển trình độ chuyên môn kỹ thuật của nguồn nhân lực, trình độ chuyên môn kỹ thuật của nguồn nhân lực chỉ có thể có đƣợc, thông qua đào tạo; (3) phát triển kỹ năng nghề nghiệp; (4) nâng cao trình độ nhận thức cho ngƣời lao động, nhằm tạo cho họ có đủ trình độ thực hiện hoàn thành nhiệm vụ của tổ chức; (5) nâng cao trình độ sức khỏe cho ngƣời lao động.
Qua đó, tác giả đã xây dựng đƣợc những giải pháp hợp lý với hoạt động của Công ty dựa trên kiến thức đã thu thập đƣợc từ tài liệu trên và kiến thức thực tế. Tài liệu đánh giá đào tạo dựa vào bốn cấp độ của Kirkpatrick. Qua việc tìm hiểu tài liệu của Kirkpatrick, tác giả đã tiếp thu đƣợc những kiến thức và vận dụng vào cơ sở lý luận của luận văn. Bốn cấp độ đánh giá đào tạo của Kirkpatrick làm nền tảng cơ sở để tác giả xây dựng bảng khảo sát đánh giá đào tạo của nhân viên nhằm đánh giá hiệu quả của công tác đào tạo.
Với bốn cấp độ gồm: (1) phản ứng, (2) đánh giá học tập, (3) đánh giá hành vi, (4) đánh 6 giá kết quả, tác giả đã dựa nguồn lý thuyết này vào việc vận dụng đánh giá đào tạo trong đề tài. Với những kiến thức học hỏi đƣợc từ những đóng góp trong nghiên cứu và phân tích những vấn đề về nguồn nhân lực, đào tạo nguồn nhân lực của những tác giả đi trƣớc. Tôi hệ thống hóa cơ sở lý luận về đào tạo nguồn nhân lực trong phần nghiên cứu của mình, đánh giá thực trạng đào tạo nguồn nhân lực trong thời gian qua ở Công ty Cổ phần Nội thất Ân Dƣơng Minh. Từ đó, đƣa ra những đề xuất, giải pháp đào tạo nguồn nhân lực tại Công ty Cổ phần Nội thất Ân Dƣơng Minh.
Nhƣ vậy, qua việc nghiên cứu tài liệu, công tác đào tạo nguồn nhân lực đề cập tiếp cận hệ thống. Theo hƣớng tiếp cận này, đào tạo đƣợc tiến hành qua các bƣớc sau: - Đánh giá nhu cầu đào tạo. - Thiết kế chƣơng trình đào tạo. - Triển khai đào tạo - Đánh giá đào tạo 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 TỔNG QUAN VỀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC 1.
Một số khái niệm a. Quản trị nguồn nhân lực Có nhiều cách phát biểu về Quản trị Nguồn nhân lực do ảnh hƣởng cách tiếp cận và nhận thức khác nhau. Theo định nghĩa của Trần Kim Dung (2003): “ Quản trị nguồn nhân lực đƣợc định nghĩa nhƣ là một cách tiếp cận chiến lƣợc và liên kết để quản trị tài sản quí giá nhất của tổ chức – nhân viên làm việc trong tổ chức, những ngƣời đóng góp vào việc đạt mục tiêu của tổ chức. Đào tạo nguồn nhân lực “Đào tạo nguồn nhân lực là một hoạt động có tổ chức, đƣợc thực hiện trong một thời gian nhất định và nhằm đem đến sự thay đổi năng lực của ngƣời đƣợc đào tạo.” [7] + Là quá trình học tập để chuẩn bị con ngƣời cho tƣơng lai, để họ có thể chuyển tới công việc mới trong thời gian thích hợp.
+ Là quá trình học tập nhằm mở ra cho cá nhân một công việc mới dựa trên những định hƣớng tƣơng lai của tổ chức. + Là hoạt động làm cho con ngƣời trở thành ngƣời có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định, là quá trình học tập làm cho ngƣời lao động có thể thực hiện công việc tốt hơn. Theo TS Phạm Thanh Nghị, Vũ Hồng Quân : “Đào tạo nguồn nhân lực là cần thiết cho sự thành công của doanh nghiệp và sự phát triển chức năng của con ngƣời. Vì vậy, đào tạo nguồn nhân lực không chỉ đƣợc thực hiện 8 bên trong doanh nghiệp mà còn bao gồm những hoạt động khác đƣợc thực hiện từ bên ngoài, nhƣ: học việc, học nghề và thực hành nghề.” [3] Đào tạo nguồn nhân lực nhằm mục đích nâng cao chất lƣợng, phát triển nguồn nhân lực đó.
Thực chất của quá trình này là nhằm nâng cao năng lực của ngƣời lao động. Năng lực ngƣời lao động. - Năng lực là sự tổng hòa các yếu tố kiến thức, kỹ năng hành vi và thái độ góp phần tạo ra tính hiệu quả trong công việc của mỗi ngƣời. - Về kiến thức, ngƣời lao động có thể bao gồm 3 yếu tố là kiến thức tổng hợp (những hiểu biết chung về thế giới), kiến thức chuyên ngành (về một vài lĩnh vực đặc trƣng nhƣ kế toán, tài chính,…) và kiến thức đặc thù (những kiến thức đặc trƣng mà ngƣời lao động trực tiếp tham gia hoặc đƣợc đào tạo).
- Kỹ năng của ngƣời lao động là sự thành thạo, tinh thông về các thao tác, động tác, nghiệp vụ trong quá trình hoàn thành một công việc cụ thể nào đó. Những kỹ năng sẽ giúp cho ngƣời lao động hoàn thành tốt công việc của mình, quy định tính hiệu quả của công việc. - Thái độ của ngƣời lao động cho thấy cách nhìn nhận của ngƣời đó về vai trò, trách nhiệm, mức độ nhiệt tình đối với các công việc, điều này sẽ đƣợc thể hiện qua các hành vi của họ. Một ngƣời có kỹ năng tốt nhƣng thái độ không đúng thì hiệu quả đóng góp sẽ không cao.
Có 3 yếu tố để đánh giá trình độ và năng lực của lao động là: kỹ năng, kiến thức và thái độ. Thái độ là yếu tố hàng đầu quyết định sự thành công của ngƣời lao động với công việc cũng nhƣ với tổ chức. Ý nghĩa của đào tạo nguồn nhân lực - Đào tạo nguồn nhân lực là điều kiện quyết định để một doanh nghiệp có thể đi lên trong cạnh tranh. 9 - Coi vốn nhân lực là một lĩnh vực có thể đầu tƣ, cần phân biệt sự khác nhau giữa lĩnh vực đầu tƣ này với các lĩnh vực đầu tƣ thông thƣờng khác.