Chương 1 TỔNG QUAN LÝ LUẬN VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CBLĐ,QL 1. Cán bộ lãnh đạo, quản lý 1. Khái niệm * Cán bộ Theo từ điển Tiếng Việt, CB có hai nghĩa “1. Người làm công tác nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan Nhà nước; 2.
Người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, tổ chức, phân biệt với người thường, không có chức vụ”[18]. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh“CB là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ rõ để đặt ra chính sách cho đúng”[21]. CB là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước [23].
Qua định nghĩa trên cho thấy nội hàm của CB là: Thứ nhất, CB là người có trình độ chuyên môn nghiệp vụ nhất định, làm việc không chỉ trong cơ quan Nhà nước mà ở cả hệ thống chính trị và trong số đó chỉ gồm những người có trình độ cao đẳng trở lên mới được gọi là CB. Với đặc thù này, CB khác với nhân viên và được hình thành qua đào tạo từ nhà trường. Thứ hai, CB là người giữ chức vụ trong các tổ chức, cơ quan của hệ thống chính trị. Với đặc trưng này, CB sẽ phân biệt với người không có chức vụ.
Bộ phận CB này được hình thành thường qua con đường bầu cử, dân cử hoặc đề bạt, bổ nhiệm. 6 Trong xã hội có giai cấp, CB phải mang bản chất giai cấp của giai cấp cầm quyền. Ở nước ta, CB phải là người trung thành, tận tuỵ vì lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc, có thể phân loại CB với 3 cách sau: Thứ nhất, phân loại theo lĩnh vực hoạt động chuyên môn ta có các loại CB: CB lãnh đạo, CB quản lý, CB kinh tế, CB quân sự, CB khoa học - kỹ thuật…; Thứ hai, phân loại CB theo chức vụ, trình độ tổ chức xã hội và vị trí vai trò của CB. Theo cách phân loại này ta có CB cao cấp, CB trung cấp và CB sơ cấp.
Thứ ba, phân loại theo loại hình tổ chức trong hệ thống chính trị, ta có các loại CB: CB Đảng, CB Nhà nước và CB các đoàn thể nhân dân… * Cán bộ lãnh đạo, quản lý “Lãnh đạo” là khả năng ảnh hưởng, thu hút và tập hợp những người cùng chung với một hướng, theo đuổi một hoặc một số mục tiêu nhất định. Người lãnh đạo là người đứng đầu một tổ chức, vạch ra phương hướng, chiến lược phát triển cho tổ chức, thuyết phục và vận động mọi người cùng thực hiện. Theo tác giả Nguyễn Bá Dương “Lãnh đạo được coi là những hoạt động để thích ứng sự thay đổi, tạo động lực và gây ảnh hưởng, khích lệ sự tự tin, ủng hộ từ những người cần thiết để thực hiện thành công các mục tiêu của tổ chức” [12]. “Quản lý là sự tác động có ý thức để chỉ huy điều hành, hướng dẫn, các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để hướng đến mục đích, đúng ý trí và phù hợp với quy luật khách quan [16].
“Quản lý” là hoạt động tổ chức, điều hành, điều chỉnh, chỉ đạo các các nguồn lực của tổ chức theo những cách thức nhất định nhằm thực hiện được mục tiêu của tổ chức [17]. “Quản lý là thuật ngữ chỉ hoạt động có ý thức của con người nhằm sắp xếp tổ chức, chỉ huy, điều hành, hướng dẫn, kiểm tra…Các quá trình xã hội và hoạt động của con người để hướng chúng phát triển phù hợp với quy luật xã hội, đạt được mục tiêu đã xác định theo ý trí của nhà quản lý với chi phí thấp nhất” [26]. 7 Giữa“ Lãnh đạo và Quản lý” đều giống nhau ở chỗ cả hai đều biểu hiện những tác động tự giác của chủ thể lãnh đạo, quản lý đến đối tượng (khách thể) theo những mục tiêu đã định trước. Cả hai đều có chung về phương hướng và mục đích là bảo đảm duy trì sự hoạt động bình thường của hệ thống.
Thực tế hoạt động của quản lý và hoạt động lãnh đạo không tách rời nhau người lãnh đạo cũng đồng thời là người quản lý hệ thống đó, lãnh đạo là một khía cạnh quan trọng của quản lý. Và người lãnh đạo có thể trở thành một nhà quản lý giỏi, nhưng một nhà quản lý chỉ trở thành một nhà lãnh đạo khi anh ta có đầy đủ những phẩm chất như: khả năng nhận thức đầy đủ đối tượng quản lý, khả năng khích lệ, khả năng hành động nhằm tạo ra bầu không khí thân thiện trong hoạt động chung, là việc tạo động lực cho họ trong quá trình hoạt động thực hiện chức trách, nhiệm vụ của mình. Lãnh đạo và quản lý có những điểm khác biệt nhau. Trước hết “ Quản lý” là sự điều khiển vận hành một hoạt động nào đó, đối tượng của nó có thể là con người và có thể là công cụ.
Còn “ Lãnh đạo” là quá trình làm thức tỉnh hành vi của con người vừa có thể định hướng hoạt động của con người và xã hội. Như vậy, đối tượng tác động của lãnh đạo là con người. Con người vừa là chủ thể vừa là khách thể của mọi sự tác động. Một người lãnh đạo tốt phải là người có uy tín cao trong tập thể.
Chủ tịch Hồ Chí Mình đã từng nói: Sự lãnh đạo của Đảng phải xuất phát từ quần chúng và trở lại nơi quần chúng. Trong quá trình lãnh đạo, hoạt động chủ yếu là định hướng cho khách thể thông qua hệ thống cơ chế, đường lối chủ trương chính sách làm thức tỉnh hành vi, định hướng hoạt động của đối tượng và xã hội. Còn trong quản lý, sự tác động mang tính điều khiển vận hành thông qua những thiết chế mang tính pháp lệnh được quy định từ trước. Do đó mệnh lệnh hành chính là phương pháp đặc trưng của quản lý.
Sự phân biệt giữa “Quản lý và Lãnh đạo” chỉ là tương đối, nhưng có quan hệ mật thiết và tác động lẫn nhau trong từng đối tượng và từng nội dung. Hiện nay, khái niệm CB lãnh đạo còn gắn liền với khái niệm CB quản 8 lý, là những người có chức vụ và trách nhiệm điều hành, đứng đầu trong các cơ quan, các tổ chức sự nghiệp. Nội hàm khái niệm CB lãnh đạo và CB quản lý đều là chủ thể ra quyết định, điều khiển hoạt động của một tổ chức, người CB lãnh đạo cũng phải thực hiện chức năng quản lý và một người CB quản lý cũng phải thực hiện chức năng lãnh đạo. CB lãnh đạo được hiểu theo hai thành phần sau: Thứ nhất, được hiểu là những ai giữ chức vụ và trách nhiệm cao trong một tổ chức có ảnh hưởng lớn đến hoạt động của tổ chức, của bộ máy, có vai trò tham gia định hướng, điều khiển hoạt động cả bộ máy.
Ví dụ : Các uỷ viên BCH, BTV, Thường trực Thành ủy, HĐND - UBND, trưởng, phó các cơ quan, đơn vị. CB lãnh đạo chính là những người đứng đầu, có chức vụ cao nhất trong một tập thể, có quyền ra quyết định về chủ trương, có trách nhiệm và quyền điều hành một tập thể, một đơn vị, một tổ chức để thực hiện nhiệm vụ và có thể chi phối dẫn dắt toàn bộ hoạt động của tổ chức và của cả hệ thống chính trị. Thứ hai, trong khái niệm CBLĐ là những người đứng đầu tổ chức, quốc gia. Họ là nhóm người lãnh đạo ở tầm vĩ mô.
Thế giới hiện đại gọi là nhóm lãnh đạo chính trị quốc gia, hay còn gọi là CBLĐ cao cấp, chủ chốt. Như vậy CBLĐ,QL là người đứng đầu một tổ chức, một cơ quan nào đó, một ngành trong cơ quan nhà nước các cấp từ trung ương đến cơ sở. CBLĐ,QL là những người được tập thể lãnh đạo uỷ nhiệm có quyền thay mặt tập thể giải quyết và xử lý các vụ việc, tình huống diễn ra có liên quan đến tổ chức mà họ phụ trách. Từ những phân tích ở trên chúng ta có thể đưa ra khái niệm CBLĐ,QL như sau: CBLĐ,QL là những người có chức vụ, có vai trò và cương vị nòng cốt trong một cơ quan, một tổ chức; có ảnh hưởng tác động đến hoạt động của tổ chức và các quan hệ trong lãnh đạo, chỉ huy, quản lý, điều hành, góp phần định hướng phát triển của tổ chức theo các mục tiêu đã đề ra.
Đặc điểm, vai trò của CBLĐ,QL 9 1. Đặc điểm Đội ngũ CBLĐ,QL là một bộ phận nguồn nhân lực quan trọng trong hệ thống chính trị do Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Hệ thống chính trị ở Việt Nam bao gồm tổ chức Đảng, tổ chức chính trị xã hội, các đoàn thể quần chúng; hệ thống hành chính nhà nước và lực lượng vũ trang…Theo quy định hiện hành, những người đang làm việc trong hệ thống chính trị đều được coi là CB, CC nhà nước, những người đang làm việc thuộc khối QLNN là CC hành chính nhà nước. Ở Việt Nam có sự luân chuyển bố trí CB, CC giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị.
Chẳng hạn như CB làm trong tổ chức của Đảng có thể luân chuyển sang làm việc trong cơ quan QLNN và ngược lại. Do đặc thù của lĩnh vực QLNN là đa ngành, đa lĩnh vực, nên CBLĐ,QL ở mỗi ngành, mỗi lĩnh vực có đặc thù quản lý khác nhau, điều đó được thể hiện qua một số đặc điểm như sau: Phân loại theo vị trí công tác bao gồm: + CC lãnh đạo, quản lý là những người thực hiện chức năng quản lý, điều hành công việc của những CC dưới quyền. + CC chuyên môn, nghiệp vụ là những người thực hiện một công việc đòi hỏi có sự hiểu biết trong lĩnh vực chuyên môn mà người CC đó được phân công. + CC phục vụ (CC thừa hành) là những người làm công tác chuẩn bị, thu thập tài liệu phục vụ cho lãnh đạo ra quyết định quản lý (như thư ký, nhân viên đánh máy, văn thư…) Theo tính chất ngạch CC bao gồm: + Chuyên viên là CC chuyên môn nghiệp vụ trong hệ thống QLNN tổ chức quản lý một lĩnh vực hoặc một vấn đề nghiệp vụ được phân công.
+ Chuyên viên chính là CC chuyên môn nghiệp vụ trong hệ thống QLNN giúp lãnh đạo chỉ đạo quản lý một lĩnh vực nghiệp vụ.