CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CỦA TỔ CHỨC 1. Một số khái niệm 1. Cán bộ Ở Việt Nam, khái niệm “cán bộ” có từ rất lâu, trải qua từng thời kỳ phát triển của đất nước, khái niệm này cũng có sự thay đổi. Lần đầu tiên, khái niệm xuất hiện trong văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước, trong Điều 1 của Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/05/1950 của Chủ tịch Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, quy định quy chế công chức Việt Nam: “Những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong cơ quan Chính phủ, ở trong nước hay ở nước ngoài đều là công chức theo quy chế này, trừ trường hợp riêng biệt do Chính phủ quy định”.
[a] Từ sau năm 1950, khái niệm “cán bộ” cũng có nhiều cách gọi khác nhau, dưới nhiều thể loại văn bản khác nhau. Cuối những năm 80 của thế kỷ 20, khái niệm “cán bộ” được gọi chung là “cán bộ, công nhân viên chức nhà nước”. Cán bộ, công nhân viên chức nhà nước được gọi chung cho tất cả những người làm việc cho Nhà nước, không có sự phân biệt cụ thể, được hình thành từ nhiều con đường khác nhau như do bầu cử, do phân công sau khi tốt nghiệp các trường chuyên nghiệp, do tuyển dụng, bổ nhiệm… Từ sau năm 1986, Việt Nam có sự cải cách nền hành chính và có sự chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước, khái niệm công chức nhà nước được sử dụng trở lại trong Nghị định 169/HĐBT ngày 25/05/1991 của Chính phủ: “Công dân Việt Nam được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở của nhà nước ở Trung ương hay địa phương, ở trong nước hay ngoài nước, đã được xếp vào một ngạch, hưởng lương do ngân sách nhà nước cấp gọi là công chức nhà nước”. [b] Năm 1998, Pháp lệnh Cán bộ, công chức ra đời, là văn bản pháp lý cao nhất về cán bộ, công chức.
Dưới Pháp lệnh là Nghị định số 95/1998/NĐ-CP ngày 11 17/11/1998 về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức. Nghị định đã nêu khái niệm công chức: “là công dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước, bao gồm những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữ một công việc thường xuyên, được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp vào một ngạch hành chính, sự nghiệp; những người làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân và công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp và công nhân quốc phòng”. [c] Năm 2003, tại Điều 1 Pháp lệnh Cán bộ, công chức nêu rõ: “Cán bộ, công chức quy định tại Pháp lệnh này là công dân Việt Nam, trong biên chế bao gồm: a) Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương; ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh); ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện); b) Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; c) Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch công chức hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên trong các cơ quan nhà nước ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; d) Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của Nhà nước; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; đ) Thẩm phán Toà án nhân dân, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân; e) Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; làm việc trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sỹ quan chuyên nghiệp; 12 g) Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân; Bí thư, Phó Bí thư Đảng uỷ; Người đứng đầu tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã); h) Những người được tuyển dụng, giao giữ chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Uỷ ban nhân dân cấp xã”. [d] Luật Cán bộ, công chức được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008.
Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2010. Khoản 1 Điều 4 quy định về cán bộ như sau: “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”. [e] Như vậy, với sự thay đổi của đất nước, khái niệm cán bộ cũng có sự thay đổi. Hiện nay, khái niệm cán bộ đang sử dụng được nêu trong Luật Cán bộ, công chức: “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”.
Đội ngũ cán bộ Đặc điểm của cán bộ: là những người được bầu cử, đề bạt, bổ nhiệm để giữ một chức vụ nhất định trong cơ quan của Đảng, cơ quan nhà nước, các đoàn thể chính trị - xã hội thuộc hệ thống chính trị nước ta. Hiện nay, có nhiều cách phân loại đội ngũ cán bộ, như: - Phân loại theo vị trí công tác của cán bộ, bao gồm: 13 + Cán bộ lãnh đạo: là người đứng đầu tổ chức, có thẩm quyền ra quyết định trong lĩnh vực do mình phụ trách và chịu trách nhiệm trước pháp luật về các quyết định của mình. + Cán bộ chuyên môn nghiệp vụ: là các chuyên viên đảm trách các vấn đề chuyên môn, là người được đào tạo chuyên môn, có sự am hiểu sâu sắc về lĩnh vực chuyên môn nào đó, có khả năng nghiên cứu, đề xuất những phương hướng, quan điểm và thực thi các công việc chuyên môn phức tạp. Các cán bộ chuyên môn nghiệp vụ có thể tư vấn cho các cán bộ lãnh đạo trong quá trình ra quyết định.
+ Nhân viên tác nghiệp trực tiếp: như nhân viên kế toán, thống kê, thư ký… là người đảm trách các nghiệp vụ, tham gia vào các công việc cụ thể. Nhân viên tác nghiệp trực tiếp có thể chuẩn bị đầy đủ thông tin cho các chuyên gia và các cán bộ lãnh đạo, giúp cho cán bộ lãnh đạo thuận lợi hơn trong việc ra quyết định. - Phân loại theo trình độ chuyên môn đào tạo, bao gồm: + Cán bộ loại A: bao gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch có yêu cầu chuẩn là trình độ giáo dục đại học trở lên. + Cán bộ loại B: bao gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch có yêu cầu chuẩn là trình độ giáo dục nghề nghiệp.
+ Cán bộ loại C: bao gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch có yêu cầu chuẩn là trình độ dưới giáo dục nghề nghiệp. - Phân loại theo hệ thống thứ bậc của nền công vụ: + Phân loại theo ngạch: Chuyên viên cao cấp và tương đương Chuyên viên chính và tương đương Chuyên viên và tương đương Cán sự và tương đương Nhân viên + Phân loại theo hệ thống cơ cấu tổ chức của nền hành chính: Cán bộ làm việc ở cơ quan hành chính nhà nước trung ương Cán bộ làm việc ở cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh 14 Cán bộ làm việc ở cơ quan hành chính nhà nước cấp huyện Cán bộ làm việc ở cơ quan hành chính nhà nước cấp xã Yêu cầu đối với đội ngũ cán bộ: - Nghĩa vụ của cán bộ đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân: "1. Trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ danh dự Tổ quốc và lợi ích quốc gia. Tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân.
Liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân. Chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước". [e] - Nghĩa vụ của cán bộ trong thi hành công vụ: "1. Thực hiện đúng, đầy đủ và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao.
Có ý thức tổ chức kỷ luật; nghiêm chỉnh chấp hành nội quy, quy chế của cơ quan, tổ chức, đơn vị; báo cáo người có thẩm quyền khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; bảo vệ bí mật nhà nước. Chủ động phối hợp chặt chẽ trong thi hành công vụ; giữ gìn đoàn kết trong cơ quan, tổ chức, đơn vị. Bảo vệ, quản lý và sử dụng hiệu quả, tiết kiệm tài sản nhà nước được giao. Chấp hành quyết định của cấp trên.
Khi có căn cứ cho rằng quyết định đó là trái pháp luật thì phải kịp thời báo cáo bằng văn bản với người ra quyết định; trường hợp người ra quyết định vẫn quyết định việc thi hành thì phải có văn bản và người thi hành phải chấp hành nhưng không chịu trách nhiệm về hậu quả của việc thi hành, đồng thời báo cáo cấp trên trực tiếp của người ra quyết định. Người ra quyết định phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình. Thực hiện các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật". [e] - Ngoài ra, cán bộ là người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị, ngoài việc thực hiện tốt các yêu cầu trên còn phải thực hiện các yêu cầu sau đây: 15 + Chỉ đạo tổ chức thực hiện nhiệm vụ được giao và chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị.
+ Kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn việc thi hành công vụ của cán bộ.