Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÁN BỘ, CÔNG CHỨC LÀ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH CAO BẰNG 1.1 Khái niệm về Chính sách công - Chính sách Chính sách là một thuật ngữ được sử dụng khá phổ biến trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội. Tuy nhiên, cho đến nay, vẫn còn nhiều cách hiểu, nhiều cách định nghĩa khác nhau về chính sách. Chính sách có thể được hiểu là “tập hợp các hành động nhằm giải quyết vấn đề, đạt được các mục tiêu nhất định”, hay là “nỗ lực được lên kế hoạch một cách có chủ đích nhằm thiết lập các nguyên tắc và chương trình đã được thiết kế để giải quyết các vấn đề được quan tâm” [31]. Tác giả James Anderson (2003) định nghĩa: “Chính sách là một quá trình hành động có mục đích theo đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trong việc giải quyết các vấn đề mà họ quan tâm”.
Tác giả Nguyễn Minh Thuyết (năm 2011) định nghĩa: “Chính sách là đường lối cụ thể của một chính đảng hoặc một chủ thể quyền lực về một lĩnh vực nhất định cùng các biện pháp, kế hoạch thực hiện đường lối ấy”. Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên: “Chính sách là sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra” [Nxb. Đà Nẵng – Trung tâm từ điển học, Hà Nội - Đà Nẵng, 2003]. Tuy cách diễn giải khác nhau nhưng các định nghĩa nhìn chung đều thống nhất cho rằng: Chính sách là toàn bộ các phương thức được sử dụng để giải quyết vấn đề và đạt được các mục tiêu mong đợi.
- Chính sách công Hiện nay trên thế giới, có nhiều cách định nghĩa khác nhau về chính sách công. Trong đó, có những định nghĩa tập trung vào cách diễn giải chung nhất hoặc có những định nghĩa tập trung vào những diễn giải cụ thể. Theo James Anderson (1984): “Chính sách công là đường lối hành động có mục đích được ban hành bởi 11 Luan van một hoặc một tập hợp các nhà hoạt động chính trị để giải quyết một vấn đề phát sinh hoặc vấn đề cần quan tâm”. Guy Peters (1990) định nghĩa: “Chính sách công là toàn bộ các hoạt động của nhà nước có ảnh hưởng một cách trực tiếp hay gián tiếp đến cuộc sống của mọi người dân”.
Tác giả Nguyễn Hữu Hải cho rằng: “Chính sách công là kết quả ý chí chính trị của Nhà nước được thể hiện bằng một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau, bao hàm trong đó định hướng mục tiêu và cách thức giải quyết những vấn đề công trong xã hội”. Theo tập bài giảng tổng quan về chính sách công của Học viện khoa học xã hội thì: “Chính sách công là những quyết định của chủ thể được trao quyền lực công nhằm giải quyết những vấn đề vì lợi ích chung của cộng đồng”. Như vậy, có khá nhiều định nghĩa về chính sách công nhưng các định nghĩa đều có một số điểm chung đáng chú ý đó là: Chủ thể ban hành và thực thi chính sách công là Nhà nước; Chính sách công là tập hợp các quyết định liên quan đến nhau về việc có hành động hay không hành động; Chính sách công là tập hợp hành động có chủ đích được định hướng giải quyết vấn đề. Từ những điểm chung điểm chung nên trên, chúng tôi hiểu về chính sách công như sau: Chính sách công là tập hợp các quyết định liên quan đến nhau của nhà nước về việc lựa chọn các mục tiêu và giải pháp nhằm giải quyết vấn đề thuộc lợi ích công cộng.
Khái niệm về Đào tạo, bồi dưỡng, phát triển - Đào tạo, bồi dưỡng - Theo Đại từ điển do Nguyễn Như Ý chủ biên: Đào tạo là dạy dỗ, rèn luyện để trở nên người có hiểu biết, có nghề nghiệp; còn Bồi dưỡng là làm cho khỏe thêm, mạnh thêm và tốt hơn, giỏi hơn (Nxb. Văn hóa -Thông tin, Hà Nội, 1998). Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên: Đào tạo là làm cho trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định; Bồi dưỡng là làm cho tăng thêm sức của cơ thể bằng chất bổ và tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất [Nxb. Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 2010, tr.
Nghị định 18/2010/NĐ-CP, ngày 05/03/2010 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng công chức đã đưa ra khái niệm: “Đào tạo là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức, kỹ năng theo quy định của từng cấp học, bậc học”; “Bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc” [tr. Trước đây, trong ĐTBD công chức, chúng ta hay sử dụng khái 12 Luan van niệm đào tạo lại với nghĩa là một quá trình ĐTBD công chức thay đổi dạng hoạt động nghề nghiệp hay phương thức hoạt động nghề nghiệp (bao gồm tri thức, kỹ năng, kỹ xảo…) để phù hợp với những thay đổi của môi trường. Như vậy, trên cơ sở các khái niệm nêu trên, tác giả luận văn này hiểu khái niệm: Đào tạo là quá trình tác động đến con người nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo…một cách có hệ thống, chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và có khả năng nhận sự phân công lao động nhất định, hoàn thành tốt nhiệm vụ, công vụ được giao; Bồi dưỡng là quá trình liên tục nâng cao trình độ chuyên môn, kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp, nâng cao năng lực nói chung trên cơ sở của mặt bằng kiến thức đã được đào tạo trước đó. Trong hoạt động ĐTBD công chức có nhiệm vụ cập nhật, trang bị thêm, trang bị mới về kiến thức, kỹ năng thực thi nhiệm vụ, công vụ của người công chức.
Mặc dù đào tạo, bồi dưỡng là hai khái niệm độc lập và riêng biệt, tuy nhiên khi bàn về vấn đề thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng, nhất là cho cán bộ, công chức là người DTTS thì không nhất thiết tách bạch ra một cách độc lập mà có thể hiểu nó trong một chỉnh thể thống nhất. Với quan niệm này, luận văn tiếp cận khái niệm đào tạo, bồi dưỡng như sau: đào tạo, bồi dưỡng chính là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức, kỹ năng phân tích, xử lí và làm việc theo quy định của từng cấp học, bậc học; đồng thời đó cũng chính là quá trình vừa trang bị vừa cập nhật những kiến thức, kỹ năng mới. Trải qua quá trình đào tạo, bồi dưỡng, người học có thể đạt được một trình độ kiến thức, chuyên môn, nghề nghiệp theo chuẩn quy định để xử lý công việc thực tiễn một cách mềm dẻo, nhạy bén, linh hoạt. - Phát triển là quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của một sự vật.
Quá trình vận động đó diễn ra vừa dần dần, vừa nhảy vọt để đưa tới sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ. Sự phát triển là kết quả của quá trình thay đổi dần về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, quá trình diễn ra theo đường xoắn ốc và hết mỗi chu kỳ sự vật lặp lại dường như sự vật ban đầu nhưng ở mức (cấp độ) cao hơn. 13 Luan van Như đã đề cập ở phần phạm vi nghiên cứu nên trong nội dung của luận văn này chúng tôi sử dụng khái niệm phát triển cán bộ, công chức người DTTS. đương nhiên sẽ chú ý đến việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức người DTTS.
Khái niệm Dân tộc thiểu số Đại từ điển Tiếng Việt định nghĩa: “dân tộc thiểu số là dân tộc có số dân ít, cư trú trong cộng đồng quốc gia nhiều dân tộc (có một dân tộc đa số) sống trong vùng hẻo lánh, ngoại vi, vùng ít phát triển về kinh tế - xã hội” [Trung tâm Từ điển và Ngôn ngữ Hà Nội (1999), Đại từ điển Tiếng Việt, Nxb Văn hóa Thông tin; tr. Nghị định 05/2011/NĐ-CP ngày 14-01-2011 của Chính phủ về công tác dân tộc, tại khoản 2 và khoản 3 Điều 4: “Dân tộc thiểu số” là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. “Dân tộc đa số” là dân tộc có số dân chiếm trên 50% tổng dân số của cả nước, theo điều tra dân số quốc gia. Khái niệm về Cán bộ, công chức - Luật cán bộ, công chức được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kì họp thứ 4, ngày 13/11/2008 thông qua đã nêu khái niệm cán bộ cấp tỉnh và cấp huyện như sau: - Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà [15].
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật cán bộ, công chức và Luật viên chức, nêu khái niệm công chức như sau: Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; 14 Luan van trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân, công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước [16]. - Cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số Như vậy, khái niệm Cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số là một khái niệm kép, tập hợp của khái niệm “cán bộ”, “công chức” và “dân tộc thiểu số”. Từ những phân tích như trên, có thể đi đến một quan niệm chung về cán bộ, công chức dân tộc thiểu số, như sau: “cán bộ, công chức dân tộc thiểu số” là những cán bộ, công chức được quy định tại Luật cán bộ, công chức đang công tác trong một tổ chức xác định của hệ thống chính trị, có thành phần xuất thân từ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam.