Chương 1: Cơ sở lý luận về chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong cơ quan quản lý hành chính Nhà nước; Chương 2: Đánh giá thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức tại UBND huyện An Dương, Hải Phòng từ năm 2016-2020; Chương 3: Biện pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức tại UBND huyện An Dương, Hải Phòng tới năm 2025. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC TRONG CƠ QUAN QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC 1. Cơ sở lý luận về cán bộ, công chức, viên chức 1. Khái niệm về cán bộ, công chức, viên chức Khái niệm công chức xuất hiện ở nước Anh từ năm 1859 nhưng đến nay vẫn chưa có một quan niệm thống nhất về công chức cho tất cả các nước trên thế giới.
Tại Vương quốc Anh, khái niệm công chức bao hàm những người làm việc trong ngành hành chính như ngoại giao và nội chính. Tại Hợp Chúng quốc Hoa Kỳ, tất cả các nhân viên làm việc trong bộ máy hành chính của Chính phủ được gọi chung là công chức. Các nghị sĩ tại Thượng viện và Hạ viện thuộc Quốc hội đều không là công chức. Tại Nhật Bản, khái niệm công chức bao hàm công chức ở trung ương, công chức ở địa phương.
Công chức Nhà nước là những người được nhận chức trong bộ máy Chính phủ trung ương, Quốc hội, quân đội, tư pháp, trường học công, xí nghiệp và đơn vị sự nghiệp quốc doanh, lĩnh lương từ ngân sách Nhà nước. Tại nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, khái niệm công chức Nhà nước dùng để chỉ những người làm việc ở cơ quan hành chính Nhà nước các cấp, trừ nhân viên phục vụ. Qua ví dụ của 4 quốc gia trên, cho ta thấy không có một khái niệm thống nhất về công chức, nhưng đều có điểm chung là, công chức là những công dân được tuyển dụng, bổ nhiệm làm việc thường xuyên trong cơ quan Nhà nước và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước. Tại Việt Nam, khái niệm công chức lần đầu tiên xuất hiện tại Sắc lệnh số 76/SL ngày 20 tháng 5 năm 1950 về Quy chế công chức do Hồ Chủ tịch 7 ký.
Tại Điều 1 Sắc lệnh quy định: “Những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển dụng, giao giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, ở trong hay ở ngoài nước đều là công chức theo quy chế này, trừ những trường hợp riêng biệt do Chính phủ quy định” [8, Tr2]. Do thời điểm đó, chiến tranh chống thực dân Pháp diễn ra ác liệt nên Sắc lệnh này không được phổ biến, do vậy khái niệm công chức ít được sử dụng, thuật ngữ “cán bộ” hay được dùng để chỉ những người công tác trong cơ quan Nhà nước nói chung. Để có cơ sở tuyển chọn đúng, sử dụng có hiệu quả công chức làm việc trong các cơ quan hành chính, sự nghiệp của Nhà nước, từng bước xây dựng đội ngũ công chức có nghiệp vụ thành thạo, xây dựng bộ máy quản lý Nhà nước vững mạnh, ngày 25 tháng 5 năm 1991, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ), ban hành Nghị định số 169-HTBT về công chức Nhà nước. Tại Điều 1 quy định về công chức: “Công dân Việt Nam được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở của Nhà nước ở Trung ương hay địa phương; ở trong nước hay ngoài nước; đã được xếp vào một ngạch, hưởng lương do ngân sách Nhà nước cấp gọi là công chức Nhà nước” [5, Tr2].
Tiếp tục hoàn thiện các văn bản liên quan đến công chức, để đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp đổi mới của đất nước, ngày 26 tháng 02 năm 1998, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh cán bộ, công chức có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 5 năm 1998. Ngày 29 tháng 4 năm 2003, Quốc hội tiếp tục ban hành Pháp lệnh số 11/2003/PL-UBTVQH về sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh cán bộ, công chức. Sau nhiều lần sửa đổi, điều chỉnh, bổ sung, ngày 13 tháng 11 năm 2008, Quốc hội nước ta đã ban hành Luật cán bộ, công chức, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2010. Tại Điều 4, Luật cán bộ, công chức, công chức là: 8 “ Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch công chức, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức CT-XH ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; - Trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp; - Trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của các đơn vị sự nghiệp công lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội trong biên chế được hưởng lương từ ngân sách Nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập, thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”.
[8] Để xác định cụ thể hơn về công chức, Chính phủ ban hành Nghị định số 06/2010/NĐ-CP ngày 25/01/2010 về việc quy định những người là công chức từ các cơ quan trung ương đến cấp huyện. Vai trò của cán bộ, công chức, viên chức trong cơ quan quản lý hành chính Nhà nước Nói về vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ “Cán bộ là gốc của mọi công việc, công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”. Như vậy cán bộ, công chức, viên chức là lực lượng chính đưa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước vào trong cuộc sống, có vị trí vừa tiên phong vừa là trung tâm của xã hội nhưng cũng là người đầy tớ trung thành và là “công bộc” của nhân dân. Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức của UBND cấp huyện là lực lượng giữ vai trò quan trọng trong các hoạt động trên địa bàn huyện, thực hiện quyền lực Nhà nước đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân.
Vai trò của cán bộ, công chức, viên chức của UBND cấp huyện biểu hiện ở các khía cạnh sau: 9 - Tiếp thu và thực hiện nguyện vọng của nhân dân, nắm bắt được những yêu cầu thực tiễn trong cuộc sống để phản ánh cho các cơ quan chức năng Nhà nước kịp thời có các chủ trương, chính sách sát thực quản lý phù hợp trên địa bàn huyện. - Có vai trò nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính Nhà nước trên địa bàn huyện và đưa đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đi vào cuộc sống. - CBCCVC là nhân tố quyết định để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, tính hiệu quả quản lý của Huyện ủy và UBND huyện, đây là lực lượng quyết định thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị, KT-XH, văn hóa, An ninh quốc phòng. - CBCCVC cấp huyện phát huy vai trò rất quan trọng trong của các tổ chức, các đoàn thể, đảm bảo thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, thắt chặt mối quan hệ giữa Đảng, chính quyền với nhân dân.
Nội dung của công tác quản lý cán bộ, công chức, viên chức trong cơ quan quản lý hành chính Nhà nước 1. Công tác quy hoạch cán bộ, công chức, viên chức Cần phát hiện sớm nguồn cán bộ trẻ có đức, có tài, có triển vọng về năng lực lãnh đạo, quản lý, đưa vào quy hoạch. Có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, tạo nguồn các chức danh lãnh đạo, quản lý để đáp ứng nhiệm vụ chính trị trước mắt và lâu dài của từng địa phương, đơn vị. Chọn người đủ tài đức ngay trước khi tuyển dụng cần bám sát yêu cầu nhiệm vụ chính trị và thực tế đội ngũ CBCCVC ở cơ quan trong mỗi thời kì và gắn thực tiễn nội dung phát triển CBCCVC.
Cùng với đó, các chính sách hỗ trợ, phát triển, các quy định, hướng dẫn công tác quy hoạch, quản lý cán bộ là “kim chỉ nam” cho đội ngũ quản lý nhân sự các cấp có kế hoạch, chiến lược đúng đắn trong việc phát triển đội ngũ CBCCVC tại các địa phương. 10 Cần đánh giá đúng cán bộ trước khi đưa vào quy hoạch. Căn cứ vào đó để lựa chọn, giới thiệu CBCCVC vào làm việc tại UBND quận, huyện. Công tác tuyển dụng cán bộ, công chức, viên chức Xây dựng kế hoạch tuyển dụng công chức hàng năm để báo cáo cơ quan quản lý phê duyệt và tổ chức tuyển dụng công chức.
Hình thức tuyển dụng công chức được thực hiện thông qua thi tuyển, xét tuyển hoặc tiếp nhận đối với một số trường hợp đặc biệt trong tuyển dụng công chức, tùy theo mục tiêu và đối tượng cũng như công việc cần tuyển. Nguồn cho tuyển dụng CBCCVC có thể là bên trong hay bộ phận nhân lực bên ngoài, có nguyện vọng làm việc và cống hiến cho nhân dân. Việc tuyển chọn cần bám sát nhu cầu chọn lựa của Nhà nước, yêu cầu hoạt động của cơ quan làm việc. Các quy trình tuyển chọn cần phải tuân thủ yếu tố: minh bạch, rõ ràng, cơ hội để cho tất cả các đối tượng phù hợp, không để xảy ra tình trạng “con ông, cháu cha”.
Công tác tuyển dụng công chức là việc lựa chọn người có đủ tiêu điều kiện theo tiêu chuẩn chuyên môn nhất định của vị trí công việc cần tuyển. Tuyển dụng công chức là để cho công chức giữ một trọng trách nhất định hay để bổ nhiệm vào một ngạch công chức để thi hành nhiệm vụ do Nhà nước trao cho công chức, vì vậy việc tuyển chọn phải rất cẩn trọng. Các văn bản quy phạm pháp luật về tuyển dụng công chức có Luật cán bộ, công chức năm 2008; Nghị định số 24/2010/NĐ-CP; Thông tư số 13/2010/TT/BNV ngày 30/12/2010 của Bộ Nội vụ hướng dẫn thi hành Nghị định số 24/2010/NĐ-CP. Công tác đánh giá, sử dụng cán bộ, công chức, viên chức Đánh giá cán bộ là vấn đề hết sức hệ trọng trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ CBCCVC, đánh giá đúng mới có chính sách đãi ngộ phù hợp.
Nó không chỉ quyết định cho việc bố trí, sử dụng CBCCVC đúng hay sai mà còn ảnh hưởng đến tâm tư CBCCVC, dư luận và sự đoàn kết nội bộ. Vì thế đánh giá CBCCVC là công việc nhạy cảm và phức tạp.