đặt vấn đề trong nghề nghiệp, kỹ năng là chìa khoá của mọi thành công, trong đó đề cập đến hai nhóm kỹ năng cơ bản và đặc thù nghề nghiệp và đưa ra một số trắc nghiệm về các kỹ năng đó. Ông đưa ra nội hàm của một số kỹ năng như: kỹ năng tư duy, kỹ năng sống trong cộng đồng, các kỹ năng động cơ [theo 74]… Các nghiên cứu đã nêu bật vai trò và tầm quan trọng của công tác tham mưu trong điều hành và quản lý tổ chức, các tác giả đã làm rõ được bản chất của khái niệm và mối quan hệ của tham mưu và trực tuyến, những lợi ích và hạn chế của công tác tham mưu, đây cũng là một gợi ý trong kỹ năng tham mưu của đội ngũ CBVPCXP cần quan tâm khi triển khai nghiên cứu. Tác giả Hersey Paul và Ken Blank Hard, đã giới thiệu một số mô hình và lý thuyết tình huống trong nghiên cứu vấn đề kỹ năng lãnh đạo, trong đó đề cập đến 3 thành tố quan trọng của quá trình lãnh đạo: nhà lãnh đạo, cấp quản lý, tình huống. Để lãnh đạo có hiệu quả đòi hỏi nhà lãnh đạo phải có kỹ năng cần thiết như: ứng xử linh hoạt, năng lực chuẩn đoán, khả năng vận dụng 14 phong cách lãnh đạo phù hợp [theo 111].
Tác giả Warren Blank đã phân tích 3 nhóm kỹ năng cơ bản của nhà lãnh đạo: Kỹ năng nền tảng (mở rộng nhận thức về bản thân, xây dựng các mối quan hệ, xác định rõ những kỳ vọng); Kỹ năng định hướng (lập sơ đồ phạm vi hoạt động và xác định sự cần thiết của định hướng lãnh đạo, xác lập đường lối lãnh đạo, phát triển người khác thành lãnh đạo); Kỹ năng gây ảnh hưởng (xây dựng cơ sở để đạt được cam kết, gây ảnh hưởng để giành được sự ủng hộ tự nguyện của người khác, xây dựng môi trường mang tính khác lệ). Tác giả cũng đưa ra một số trắc nghiệm về đánh giá kỹ năng lãnh đạo nhằm phát hiện ra thực trạng những ưu, khuyết trong kỹ năng lãnh đạo của mỗi cá nhân [122]. Như vậy, riêng về lĩnh vực lãnh đạo quản lý đã cho thấy, để thực hiện được công việc quản lý, một nhà lãnh đạo cần phải có các kỹ năng căn bản như: kỹ năng nền tảng trong lãnh đạo; chuẩn đoán, định hướng; gây ảnh hưởng; ứng xử linh hoạt; vận dụng các phong cách lãnh đạo phù hợp. Nhìn chung, hầu hết các quốc gia phát triển đều có các cơ quan chuyên trách nghiên cứu, phát triển kỹ năng trong hoạt động nghề nghiệp để đổi mới kinh tế.
Kết quả nghiên cứu và hệ thống các kỹ năng hành nghề cơ bản được các quốc gia, tổ chức đưa ra cho thấy một số kỹ năng quan trọng là: KN giao tiếp, KN học - tự học và nâng cao năng lực cá nhân, KN dám nghĩ dám làm, KN giải quyết vấn đề, KN lập kế hoạch và tổ chức công việc, KN thích ứng, KN làm việc nhóm, KN sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông. Với các nghiên cứu của các tác giả nước ngoài trên đây về kỹ năng và kỹ năng trong hoạt động nghề nghiệp nói chung sẽ tạo là gợi ý cơ bản khi tiến hành nghiên cứu kỹ năng thực thi nghiệp vụ hành chính của CBVPCXP [107]. Các nghiên cứu về kỹ năng và kỹ năng nghề nghiệp ở Việt Nam * Các nghiên cứu về kỹ năng - Hướng thứ nhất: Xem xét kỹ năng như là mặt kỹ thực hiện thuật hành động Tác giả Trần Trọng Thuỷ đã trình bày rõ ràng khái niệm kỹ năng và các điều kiện, các giai đoạn hình thành kỹ năng trong lĩnh vực lao động kỹ thuật, 15 theo đó kỹ năng được xem là mặt kĩ thuật của hành động, con người nắm vững được cách thức hành động tức là con người có kỹ năng hành động. Với quan điểm này, tác giả đề cao mặt kĩ thuật của hành động, tuy nhiên tác giả chưa là rõ kết quả thực hiện hành động, bởi lẽ có khi nắm được kĩ thuật hành động nhưng khi thực hiện lại chưa chắc cách thức hành động đó có đem lại kết quả tương xứng hay không [111].
- Tác giả Phạm Tất Dong, Nguyễn Hải Khoát, Nguyễn Quang Uẩn cho rằng là hệ thống các hành động thể lực và trí tuệ, các biện pháp và cách thức một dạng hoạt động được thực hiện và đạt tới mục tiêu đề ra. Tác giả Phạm Tất Dong cho rằng, việc hình thành kỹ năng có thể chia thành 4 giai đoạn: Giai đoạn hình thành sơ bộ; Giai đoạn hoạt động với những kỹ năng chưa thành thạo; Giai đoạn kỹ năng phát triển cao; Giai đoạn phát triển cao nhất của kỹ năng. Quan điểm này cũng là một gợi ý cho việc luyện tập để hình thành kỹ năng, vì vậy cần phải có những tác động phù hợp cho mỗi giai đoạn [30]. Như vậy, các quan niệm theo hướng thứ nhất cả ở nước ngoài và ở Việt Nam cho rằng, muốn thực hiện được hành động con người cần có tri thức về hành động đó: hiểu mục đích, cách thức thực hiện, phương tiện, điều kiện hành động.
Khi con người nắm được tri thức về hành động, thực hiện được hành động theo đúng yêu cầu nghĩa là có kỹ năng, mức độ thành thạo của kỹ năng phụ thuộc vào mức độ nắm vững các tri thức về hành động và vận dụng chúng có đúng đắn và linh hoạt hay không, lĩnh hội được cách thức hành động là có kĩ thuật hành động, khi nắm được các kĩ thuật hành động và hành động đúng các yêu cầu của nó thì sẽ có kết quả, kết quả như thế nào lại phụ thuộc vào những yếu tố khác. Các tác giả cũng chỉ ra, muốn nắm vững tri thức về hành động và vận dụng được phải có quá trình học tập và củng cố bằng luyện tập. - Hướng thứ hai xem xét kỹ năng như là biểu hiện năng lực của con người Tác giả Vũ Dũng cho rằng kỹ năng là năng lực vận dụng có kết quả tri thức về phương thức hành động của chủ thể để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng [35]. 16 Như vậy, quan niệm theo hướng thứ hai của các tác giả nước ngoài và Việt Nam đã xem kỹ năng không chỉ đơn thuần là mặt kĩ thuật của hành động mà còn là một mặt biểu hiện năng lực của con người, kỹ năng vừa có tính ổn định, vừa có tính mềm dẻo, do đó, chỉ có thể có được bằng cách luyện tập nhiều.
Như vậy, về mặt thực chất, hai khuynh hướng trên không phủ định lẫn nhau, chỉ khác là thu hẹp hay mở rộng thành phần cấu trúc, đặc trưng của kỹ năng. Ở con người, khi kỹ năng của hoạt động nào đó hình thành thì cần xem xét kỹ năng ở mặt kĩ thuật của các thao tác, hành động hay hoạt động (kỹ năng ban đầu); còn khi kỹ năng đã được hình thành ổn định, con người biết sử dụng nó một cách sáng tạo trong các hoàn cảnh khác nhau thì kỹ năng được xem như một năng lực. Vì vậy, khi nghiên cứu sự hình thành và phát triển kỹ năng, cần qua tâm đến cả mặt kĩ thuật, kết quả của các thao tác, hành động, hoạt động. * Các nghiên cứu về kỹ năng nghề nghiệp - Tác giả Trần Quốc Thành [107], đã nghiên cứu kỹ năng tổ chức trò chơi ở thiếu niên.
Trong nghiên cứu của mình, tác giả cũng đã chỉ rõ cấu trúc và mức độ hình thành các kỹ năng tổ chức trò chơi ở chi đội trưởng. Tác giả cũng đã tiến hành thử nghiệm và đề xuất một số biện pháp hiệu quả nâng cao kỹ năng tổ chức trò chơi nói riêng và kỹ năng tổ chức các hoạt động đội nói chung của đội ngũ chi đội trưởng. - Tác giả Hoàng Thị Anh [5], tập trung nghiên cứu KN giao tiếp, đặc biệt là cấu trúc giao tiếp sư phạm. Trong đó đòi hỏi những người làm nghề giáo viên tương lai phải luyện tập và học hỏi các kỹ năng giao tiếp sư phạm đảm bảo tính chuẩn mực và hiệu quả trong lĩnh vực giáo dục, giảng dạy.
- Tác giả Lê Nam Hải [54] đã nghiên cứu kỹ năng dạy học môn Giáo dục học. Tác giả phân kỹ năng thành hai nhóm: nhóm kỹ năng nền tảng và nhóm kỹ năng chuyên biệt. Theo tác giả kỹ năng dạy học bao gồm: KN xác định mục đích, nhiệm vụ dạy học, KN sử dụng nguồn tư liệu, KN soạn bài và lên lớp, KN tổ chức hoạt động học tập - Nghiên cứu của tác giả Lê thị Hồng Vân: “Rèn luyện kỹ năng mềm cho sinh viên ngành luật qua việc giảng dạy môn nghiên cứu và lập luận” [115], 17 đề cập đến việc do công việc đặc thù của ngành luật là thường xuyên xử dụng tranh luận và lập luận khi đấu trí, đấu khẩu để giải quyết thỏa đáng các xung đột, tranh chấp, ảnh hưởng đến quyền lợi của các cá nhân liên quan nên việc các luật sư tương lai phải thành thúc các kỹ năng mềm trong đó có kỹ năng lập luận, tranh luận, phản biện một cách tài, trí là điều tối cần thiết để khẳng định sự sống còn trong nghề nghiệp. - Tác giả Bùi Kim Chi [19], đề cấp đến một số kỹ năng trong hoạt động nghề nghiệp của thẩm phán: kỹ năng chuyên môn nghề nghiệp, kỹ năng làm chủ bản thân, kỹ năng tự học tập và rèn luyện nâng cao trình độ về mọi mặt, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng xét xử, kỹ năng giao tiếp trong tố tụng, kỹ năng giáo dục pháp luật đối với các chủ thể liên quan và cộng đồng, kỹ năng giữ liêm… Đây cũng là một gợi ý khi nghiên cứu các kỹ năng thực thi nghiệp vụ hành chính đối với CBVP cấp cơ sở, tuy nhiên cần chắt lọc để thiết lập các thành tố sao cho phù hợp với đặc trưng công việc của CBVPCXP.
- Nghiên cứu của tác giả Bùi Văn Nhơn, “Quản lí nguồn nhân sự trong một tổ chức“[92]. Trong đó có nội dung đề cập đến đánh giá thực trạng nhân sự của từng vị trí trong tổ chức. Qua đó, đặt ra các yêu cầu về năng lực, kỹ năng cũng như đào tạo, bồi dưỡng nhân sự trong từng lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp cụ thể. Các nghiên cứu kỹ năng trên đây cho thấy, mỗi một lĩnh vực hoạt động nói chung, mỗi một nghề nghiệp cụ thể nói riêng đều đòi hỏi các chủ thể phải có các kỹ năng tương xứng, kỹ năng sẽ giúp con người làm chủ mọi tình huống và đạt hiệu quả cao trong hoạt động, trong công việc.
Vì vậy, rèn luyện và hình thành kỹ năng là điều tất yếu. Những công trình nghiên cứu về kỹ năng thực thi nghiệp vụ hành chính 1.