Chương 1: Tổng quan về nghiên cứu Chương này giới thiệu tổng quan về để tài nghiên cứu: Lý do nghiên cứu; mục tiêu nghiên cứu; câu hỏi đặt ra khi nghiên cứu; đối tượng của nghiên cứu; phương pháp thực hiện đối với nghiên cứu và mức ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu, kết cấu luận văn. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và đề xuất mô hình nghiên cứu Trình bày cơ sở lý thuyết về “lãnh đạo”, “lãnh đạo đích thực”, “sự sáng tạo” trong lao động, mối quan hệ giữa các bình diện của lãnh đạo đích thực đến sự sáng tạo của nhân viên và sự ảnh hưởng của các bình diện này đến khả năng sáng tạo. Từ đó xây dựng mô hình lý thuyết cho nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Trên cơ sở lý thuyết, tổng quan đề tài nghiên cứu trước, chương 03 sẽ thể hiện phương pháp nghiên cứu, mô hình của nghiên cứu này, giả thuyết nghiên cứu cùng với nguồn dữ liệu cho mô hình và phát triển bảng câu hỏi.
Chương 4: Kết quả đề tài nghiên cứu Chương này thể hiện sơ bộ kết quả nghiên cứu, đánh giá độ tin cậy của thanh đo bằng hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha; Phân tích nhân tố khám phá (EFA); Phân tích hồi quy đa biến. Chương 5: Kết luận và hàm ý nghiên cứu Dựa vào kết quả nghiên cứu, đưa ra hàm ý quản trị đối với việc nâng cao năng lực lãnh đạo từ đó phát huy khả năng sáng tạo của nhân viên tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Thành phố Hồ Chí Minh. Đồng thời cuối chương này cũng nêu ra những hạn chế của nghiên cứu cũng như đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo. h 10 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT 2.1 Một số lý luận cơ bản về phong cách lãnh đạo và khả năng sáng tạo của nhân viên 2.
Phong cách lãnh đạo đích thực 2. Khái niệm sự lãnh đạo và phong cách lãnh đạo đích thực 2.1 Khái niệm sự lãnh đạo Lãnh đạo là người quản lý, ngoài nhiệm vụ quản lý thì lãnh đạo còn là người dẫn đầu, có sức ảnh hưởng nhất định trong tổ chức. Điều này thể hiện tầm quan trọng của người lãnh đạo trong tổ chức. Nhà lãnh đạo tập trung nhiều thời gian để lập kế hoạch, đo lường, giám sát, điều phối, giải quyết các đề phát sinh, tuyển dụng.
Nhìn chung, các nhà quản lý không có nhiều sự khác biệt nhưng tố chất “lãnh đạo” thì không phải người quản lý nào cũng có, bởi “lãnh đạo” là người dẫn dắt, tạo động lực cho mọi người. Một số định nghĩa về "Lãnh đạo": Bill Gates: "Vào đầu thế kỷ tới, các nhà lãnh đạo sẽ là người sẽ trao quyền cho những người khác." Trong định nghĩa này, chúng ta thấy có “những người khác” và trao quyền. Trao quyền là một điều tốt, nhưng với mục đích gì? Nếu chúng ta trao quyền cho người không phù hợp, không đủ năng lực sẽ có ảnh hưởng đến nhiệm vụ chung của tổ chức, vô hình trung làm tăng áp lực lên cá nhân đó, do đó cần phải “thẩm định” năng lực của người được trao quyền cho phù hợp với nhiệm vụ và quyền hạn được giao. John Maxwell: "Lãnh đạo là sự ảnh hưởng, không hơn, không kém." Định nghĩa của Maxwell đã bỏ qua nguyên nhân ảnh hưởng “Lãnh đạo là một quá trình ảnh hưởng từ xã hội nhằm tối đa hóa nỗ lực của người khác để đạt được mục tiêu”.
Cần chú trọng đến các yếu tố quan trọng của định nghĩa về "Lãnh đạo": - Mọi người được dẫn dắt và nhìn nhận người đứng đầu của tổ chức, xuất phát từ ảnh hưởng xã hội,… của cá nhân đó chứ không do quyền hạn hay quyền lực áp đặt để xem đó là “lãnh đạo”. h 11 - Lãnh đạo “tự thân” với năng lực của mình, không cần ra mệnh lệnh một cách áp đặt hay bắt buộc cấp dưới phải phục tùng, mà họ phải có uy tín nhất định để cấp dưới tự giác thực hiện yêu cầu công việc cần hoàn thành. - Có nhiều phong cách lãnh đạo, tuy nhiên con đường dẫn đến lãnh đạo hiệu quả mà không cần đề cập đến đặc điểm tính cách, thuộc tính hoặc thậm chí là danh hiệu của người lãnh đạo. - Lãnh đạo cần phải có tầm nhìn, định hướng mục tiêu rõ ràng nhằm đạt được mục tiêu chiến lược như kỳ vọng.
Cuối cùng, người lãnh đạo luôn tạo niềm tin và sự cam kết nỗi lực hết mình từ người lãnh đạo sẽ tạo ra động lực cùng phấn đấu và sự tham gia, hưởng ứng nhiệt tình của nhân viên đối với người lãnh đạo mà họ tin tưởng. “Lãnh đạo” không chỉ tạo ra nỗ lực cho mọi người mà còn tối đa hóa những nỗ lực ở chính bản thân họ bởi vì họ là người dẫn đầu cho mọi hoạt động của tổ chức. Nhà lãnh đạo sẽ cùng mọi người tìm ra cách hoàn thành công việc nhanh nhất và sẵn sàng trao tặng phần thưởng cho người xứng đáng (Theo Forbes). Tựu chung, khái niệm về lãnh đạo có rất nhiều nhưng trong hầu hết các định nghĩa đã nêu ở trên đều cho thấy “lãnh đạo” là tác động đến người nhân viên theo sau đó là mong muốn sự tham gia tự nguyện của họ, nhằm đạt mục tiêu, nhiệm vụ và sứ mệnh của tổ chức.2 Khái niệm về phong cách lãnh đạo đích thực Theo Walumbwa và các cộng sự, “Phong cách lãnh đạo đích thực” là khái niệm đa chiều cùng với 4 bình diện, cụ thể: - “Tự nhận thức” (Self-awareness) là khái niệm liên quan về ưu điểm và nhược điểm yếu, thể hiện bản chất đa diện của cá nhân đó.
Để có sự trực quan và nâng cao giá trị về nhận thức, về bản thân với sự tự nhận thức cao thì người lãnh đạo sẽ nhận được sự tương tác, thể hiện mức độ ảnh hưởng người lãnh đạo, đặc biệt nếu đó là những người gần gũi, thân thiết của mình. - “Minh bạch trong các mối quan hệ” (Relational transparency) tính minh bạch được thể hiện sự đích thực trong mối quan hệ của bản thân và người khác. h 12 Người lãnh đạo đích thực sẽ không ngần ngại cung cấp thông tin liên quan, nếu thông đó không làm người khác khó chịu hay gây thiệt hại, ảnh hưởng không tốt với cho người khác, thông qua những việc làm cụ thể. Ngoài ra, trong bình diện này của người lãnh đạo đích thực được duy trì ở mức phù hợp, họ cởi mở hơn, luôn sẵn sàng chia sẽ những suy nghĩ, cảm xúc của họ một cách chân thực nhất.
Từ đó, nhân viên có thể hiểu được lý do vì sao người lãnh đạo có quyết định như vậy cùng với với sự chia sẻ đó làm giảm sự lo lắng, sợ hãi, càng có niềm tin vào người lãnh đạo (Gardner và các cộng sự, 2011). - Quá trình xử lí thông tin cân bằng (Balanced processing ofinformation) là sự cân bằng thể hiện trong cách thức người lãnh đạo khi đưa ra quyết định, họ sẽ phân tích, cân nhắc,. tất cả các thông tin liên quan trước khi quyết định nào đó. Cùng với đó, mặc dù những vấn đề đi ngược trở lại với các quan điểm trước đó, phá vỡ quy tắc của người lãnh đạo thì họ cũng sẽ có cách, vẫn dụng những phương pháp khác nhau để sàn lọc ra các thông tin mang tính khách quan nhất nhằm phân tích, đánh giá vấn đề đó.
Những quyết định được đưa ra phù hợp sẽ trở thành “công cụ hỗ trợ” cho người lãnh đạo, mang lại lợi ích cho tổ chức, xã hội, cho dù quyết định đó có thể có thể gây khó khăn cho bản thân họ, được thể hiện ở bình diện “Quá trình xử lí thông tin cân bằng”. Nhân tố này thể hiện, người lãnh đạo mang phong cách đích thực khi đưa bất quyết định nào thì họ luôn luôn sẵn sàng nhận những thông tin phản hồi từ phía cấp dưới, thậm chí là những thông tin tiêu cực về bản thân họ để có quyết định đúng đắn nhất. - “Quan điểm đạo đức nội tại” (An internalized moral perspective) các giá trị cùng với những nguyên tắc luôn được lãnh đạo đích thực gìn giữ và tuân thủ được thể hiển như là sự lựa chọn cơ bản “người lãnh đạo đích thực”. h 13 Song song đó, theo quan điểm của Walumbwa và các cộng sự, ở bình diện Quan điểm đạo đức nội tại thì các tiêu chuẩn, giá trị đạo đức, tiêu chuẩn nội tại đặt trước những áp lực của xã hội và tổ chức để đi đến các hành vi và các quyết định nhất quán được nêu lên ở bình diện này, nó thể hiện bản thân có sự tự điều chỉnh và được định hướng dựa trên quan điểm nhất quán, nguyên tắc nhất định.
Từ những quan điểm đã nêu trên, người nhân viên sẽ có được sự gắn kết, sự hài lòng, gia tăng thêm niềm tin vào người lãnh đạo mang “Phong cách lãnh đạo đích thực”, tạo được sự gắn bó lâu dài với tổ chức của họ, từ đó nâng cao chất lượng cuộc sống và phát huy tiềm lực vốn có của mỗi cá nhân trong tổ chức. Các yếu tố thành phần của phong cách lãnh đạo đích thực Các khái niệm khác nhau về phong cách lãnh đạo đích thực, mỗi khái niệm có những cách tiếp cận không giống nhau, tuy khác nhau nhưng nhìn chung các khái niệm này đều bao gồm bốn bình diện (Gardner và các cộng sự, 2005) như sau: + “Sự tự nhận thức”: là đặc trưng của phong cách lãnh đạo đích thực, là việc hiểu những ưu điểm và nhược điểm của bản thân người lãnh đạo cũng như bản tính đa dạng của mình (multifaceted self-nature) thể hiện ở việc tương tác với những ai và việc nhìn nhận tầm quan trọng của bản thân đến những người khác. Đặc điểm này tác động quan trọng vì để phát huy "hong cách lãnh đạo đích thực", người lãnh đạo cần phải nâng cao sự tự nhận thức của bản thân (Avolio và Luthans, 2005). + “Quá trình xử lý thông tin cân bằng”: thể hiện việc nhà lãnh đạo có sự tính toán xem xét các dữ liệu một khách quan trước khi những đưa quyết định dựa trên thông tin đã được ghi nhận về vấn đề trước đó và đưa ra các quyết định.
Đặc trưng này cho thấy rằng, nhà lãnh đạo có thể tiếp nhận thông tin từ nhiều quan điểm khác nhau, xem xét một cách công bằng quan điểm đó, định hình quan điểm và không bị ảnh hưởng khi đưa ra quyết định. Quyết định của họ là khách quan để hướng đến một thử thách hay cơ hội rõ ràng, cụ thể. + “Quan điểm đạo đức nội tại”: đề cập đến hình thức tiếp nhận và thống nhất của việc tự điều chỉnh.