phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, mục lục, danh mục các chữ viết tắt và các bảng phụ lục, luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1 Cơ sở lý luận về quản lý thiết bị dạy học đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông ở trƣờng THCS Chƣơng 2: Thực trạng quản lý thiết bị dạy học đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông ở các trƣờng THCS trên địa bàn huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phƣớc. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý TBDH đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông ở các trƣờng THCS trên địa bàn huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phƣớc. 6 PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LU N VỀ QUẢN LÝ THIẾT BỊ DẠY HỌC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC PHỔ THÔNG Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC 1. Tổng quan lịch sử vấn đề nghiên cứu về quản lý thiết bị dạy học 1.
Các nghiên cứu ở nước ngoài Trực quan trong dạy học là một trong những nguyên tắc lý luận dạy học, đƣợc nghiên cứu xuyên suốt qua các thời kỳ triết học: Trực quan trong triết học cổ đại, trực quan trong triết học siêu hình cận đại, trực quan trong triết học biện chứng duy tâm, trực quan trong triết học duy vật biện chứng. Trong lịch sử giáo dục thế giới quan điểm sự phát triển của lý thuyết về phƣơng tiện dạy học (đặc biệt là phƣơng tiện trực quan), vai trò của phƣơng tiện, thiết bị dạy học đã đƣợc phát hiện và phát triển từ rất sớm. Các nhà giáo dục đã chứng minh rằng khuyến khích học sinh nhận thức thế giới thông qua chính những giác quan của mình là phƣơng pháp dạy học phù hợp với sự phát triển tâm sinh lý của trẻ và do vậy nó là phƣơng pháp hữu hiệu nhất giúp trẻ phát triển tƣ duy: nhận biết hiện tƣợng và tiến tới nắm đƣợc bản chất của sự vật hiện tƣợng. Cùng với sự phát triển của các tƣ tƣởng trong lĩnh vực tâm lí, giáo dục học, lí thuyết về dạy học trực quan đă có những bƣớc tiến mới, nhận thức đƣợc vai trò quan trọng của phƣơng tiện - thiết bị dạy học trực quan.
Tính trực quan trong dạy học đóng vai trò minh họa trong bài giảng của giáo viên, giúp học sinh không chỉ nhận biết đƣợc hiện tƣợng mà còn nắm rõ bản chất của hiện tƣợng. Thiết bị dạy học - phƣơng tiện dạy học trực quan, có vai trò to lớn trong quá trình nhận thức của học sinh. Theo Lênin, quy luật nhận thức của con ngƣời là “Từ trực quan sinh động đến tƣ duy trừu tƣợng, từ tƣ duy trừu tƣợng đến thực tiễn”. Theo tài liệu của Dự án Việt - Úc về đào tạo giảng viên (VAT): Kiến thức thu đƣợc qua nghe là 11%, qua nhìn là 81%, qua các giác quan khác là 9%.
Kiến thức nhớ đƣợc qua nghe là 20%, qua nhìn là 30%, qua nghe và nhìn là 50%, qua nói là 80%, qua nói và làm là 90%. Trên thế giới đã có một số công trình nghiên cứu về TBDH, quản lý và sử dụng TBDH. Nhà giáo dục vĩ đại ngƣời Tiệp khắc J.Komenski (1592 – 1679) đã đặt nền móng đầu tiên cho dạy học trực quan, với quan điểm là: Dạy học đƣợc bắt 7 đầu từ việc quan sát sự vật, hiện tƣợng, quá trình. Trong tác phẩm “Phép dạy học vĩ đại”, ông viết “.
không có gì trong trí não nếu như trước đó không có gì trong các cảm giác. Vì thế tất nhiên bắt đầu dạy học không thể từ sự giải thích bằng lời về các sự vật mà phải từ sự quan sát trực tiếp chúng. Lời nói không bao giờ được đi trước sự vật”. Nhƣ vậy, Komenski đề cao một phƣơng pháp dạy học khuyến khích ngƣời học tự lĩnh hội tri thức bằng chính những giác quan của mình.
Ông nhấn mạnh: “cái có thể tri giác được hãy để cho học sinh tri giác bằng các giác quan của chúng, cái nhìn được hãy để cho nhìn, cái nghe được hãy để cho nghe. Đó là quy tắc vàng đối với trẻ em, đối với người học”. Komenski đã tổng kết và phát triển kinh nghiệm về trực quan và đem áp dụng một cách có ý thức vào quá trình dạy học. Nhà giáo dục học ngƣời Thụy Sĩ J.Pestalogie (1746 – 1827) đã phát triển nguyên tắc dạy học trực quan của Komenski với tƣ tƣởng chỉ rõ mối quan hệ hữu cơ giữa tri giác cảm tính với sự phát triển tƣ duy.
Pestalogie đã đƣa ra yêu cầu tổ chức quan sát sự vật, hiện tƣợng trong quá trình dạy học xuất phát từ tâm lý của trẻ em. Nhà hoạt động giáo dục, văn hóa nổi tiếng ngƣời Nga Belinski (1811 – 1848) lại đi tìm sự gắn kết của việc dạy học trực quan với các đặc điểm sinh lý thần kinh của con ngƣời. Dựa trên các đặc điểm duy vật, ông xem “các giác quan và bộ não của con người là hai lực lượng cần thiết cho nhau”. Ông nói: Nhà sƣ phạm trong quá trình dạy học cần phải dựa trên những biểu tƣợng của trẻ đã thu nhận đƣợc trong quá trình quan sát thế giới hiện thực.
Nhà giáo dục học ngƣời Nga Usinski (1824 – 1870) tiếp tục phát triển nguyên tắc dạy học trực quan dựa trên các thành tựu mới về tâm lý học và sinh lý học. Ông khẳng định: “không có cái gì có thể giúp anh san bằng bức tường ngăn cách giữa giáo viên và học sinh như là việc anh đưa cho học sinh xem và giải thích nó.đứa trẻ suy nghĩ bằng hình dạng, bằng màu sắc, âm thanh và bằng cảm giác nói chung”. Nhà tâm lý học A.Leontiev (1903– 1979), ông là một đại diện xuất sắc thuộc trƣờng phái tâm lý học Xô-Viết hiện đại.Leontiev đã đƣa ra quan điểm về cơ sở tâm lý học của nguyên tắc dạy học trực quan. Một phƣơng tiện dạy học sẽ thể hiện vai trò cụ thể gì trong quá trình lĩnh hội tri thức của trẻ? Một phƣơng tiện dạy học và nội dung tri thức mà trẻ nhận thức và lĩnh hội đƣợc nằm trong mối quan hệ nào? Theo quan điểm đó, A.Leontiev đã chia phƣơng tiện dạy học thành hai loại: Phƣơng tiện dạy học dùng để mở rộng kinh nghiệm, cảm tính của trẻ và phƣơng 8 tiện dạy học dùng để khám phá bản chất của đối tƣợng.
Ông phân tích: “Phương tiện dạy học làm chỗ dựa bên ngoài cho các hành động bên trong của đứa trẻ dưới sự lãnh đạo của giáo viên trong quá trình đứa trẻ nhận thức” và “chính đứa trẻ nghiên cứu không phải vật nổi hay chìm mà quy luật của sự nổi – Định luật Acsimet. Nó nghiên cứu không phải sự đốt nóng mà là các định luật về trao đổi nhiệt”. Hội nghị Quốc tế về giáo dục lần thứ 39 họp tại Giơ-ne-vơ năm 1984 cũng nhƣ nhiều hội nghị về TBDH ở các nƣớc xã hội chủ nghĩa đã khẳng định ngành giáo dục cần đƣợc đổi mới thƣờng xuyên về mục đích, cấu trúc, nội dung, TBDH và phƣơng pháp để tạo cho tất cả các học sinh có những cơ hội học tập. Tùy theo hoàn cảnh kinh tế, kỹ thuật và xã hội mà tất cả các nƣớc trên thế giới đều có khuynh hƣớng hoàn thiện CSVC và TBDH nhằm phù hợp với sự hiện đại hoá nội dung, phƣơng pháp và hình thức tổ chức dạy học.
Các nƣớc có nền kinh tế phát triển đều quan tâm đến việc nghiên cứu, thiết kế, sản xuất các TBDH hiện đại, đạt chất lƣợng cao, cần thiết cho nhu cầu giáo dục mỗi nƣớc. Từ sau đại chiến thế giới thứ hai (1939- 1945) ở Liên Xô (cũ) đã thực hiện khẩu hiệu: “Điện ảnh hoá quá trình học tập”. Ở Nhật Bản từ năm 1960 đã tổ chức nghiên cứu mẫu và sản xuất phim giáo khoa dùng trong nhà trƣờng, năm 1984 nƣớc Nhật có 29 trung tâm nghe nhìn. Năm 1992 kết quả điều tra về trang bị máy tính ở Nhật Bản cho thấy bậc tiểu học đƣợc 50%, bậc THCS đƣợc 86,1%, bậc THPT đƣợc 99,4%.
Ở Mỹ và các nƣớc Châu Âu cũng nhƣ một số nƣớc trong khu vực Châu Á nhƣ: Inđônêxia, Thái Lan, Philippin, Xingapo, ngƣời ta thay thế dần tranh trong sách giáo khoa in trên giấy bằng các hình ảnh trên màn ti vi. Nhƣ vậy lƣợng thông tin cung cấp phong phú và hấp dẫn hơn, việc bảo quản, vận chuyển và sử dụng có mặt thuận lợi hơn. Hiện nay nhiều nƣớc trên thế giới nghiên cứu, sử dụng rộng rãi đĩa hình và internet. Trong cuốn sách “Phƣơng tiện kỹ thuật dạy học và ứng dụng” – nhà xuất bản Đại học Minxcơ – 1985.
Trong tài liệu này, các tác giả đã đề cập đến nhiều vị trí, vai trò, chức năng và các loại phƣơng tiện kỹ thuật dạy học. Tài liệu cũng nêu ra đƣợc những ứng dụng cụ thể, chi tiết của phƣơng tiện kỹ thuật dạy học trong quá trình dạy học. Tài liệu là cơ sở nghiên cứu cho lĩnh vực TBDH và quản lý, sử dụng thiết bị dạy 9 học ở nƣớc ta. Tuy nhiên tài liệu này mang tính tổng quát, khó vận dụng vào điều kiện kinh tế của Việt Nam.
Các nghiên cứu ở Việt Nam Hiện nay giáo dục nƣớc ta đang đổi mới một cách toàn diện từ mục tiêu, nội dung đến phƣơng pháp dạy học.Định hƣớng cơ bản của công cuộc đổi mới giáo dục đã đƣợc chỉ rõ trong các nghị quyết của Trung ƣơng Đảng, đó là: “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng năng lực tự học, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”; “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của người học. Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học”. Trần Duy Hân với đề tài: “Biện pháp quản lý phương tiện dạy học của Hiệu trưởng các trường THCS trên địa bàn thành phố Huế đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông hiện nay”. Tác giả đã nghiên cứu lý luận và đánh giá thực trạng việc quản lý phƣơng tiện dạy học của Hiệu trƣởng, xác lập các biện pháp quản lý phƣơng tiện dạy học có hiệu quả của trƣờng nhằm nâng cao chất lƣợng ở các trƣờng THCS trên địa bàn thành phố Huế, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông hiện nay.
(Trần Duy Hân, 2012) Tác giả Tô Xuân Giáp với công trình: “Phương tiện dạy học chế tạo và sử dụng”, tác giả đã đƣa ra những cơ sở phân loại và phân loại phƣơng tiện dạy học, cách thức lựa chọn, thiết kế, chế tạo, sử dụng phƣơng tiện dạy học và các điều kiện để đảm bảo sử dụng có hiệu quả phƣơng tiện dạy học.