CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Trên thế giới, giáo dục và CNTT đã có những bước tiến rất nhanh.
Chính vì vậy, việc ƯDCNTT vào dạy học đã và đang có nhiều nhà khoa học nghiên cứu và đưa vào thực tiễn dạy và học. Các lớp học công nghệ cao, mô hình quản lí việc dạy học có ƯDCNTT ở các nước trên thế giới đã đạt được nhiều thành quả nhất định, đem lại hiệu quả cao trong dạy học, góp phần nâng cao hiệu suất đào tạo. Từ lâu, ở nhiều nước trên thế giới có nền giáo dục phát triển đã đưa ƯDCNTT vào khoa học và giáo dục nhằm xây dựng và phát triển đất nước theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Vì thế việc đầu tư về CNTT, ƯDCNTT và quản lí ƯDCNTT được các nước rất quan tâm.
Tại Nhật đã công bố từ năm 1972 về việc ƯDCNTT để xây dựng một xã hội thông tin có tên “Kế hoạch một xã hội thông tin - mục tiêu quốc gia đến năm 2000”. Từ năm 1981, Singapore đã thông qua một đạo luật về Tin học hóa Quốc gia quy định ba nhiệm vụ là: Thực hiện việc tin học hóa mọi công việc hành chính và hoạt động của Chính phủ; Phối hợp GD - ĐT tin học; Phát triển và thúc đẩy công nghiệp dịch vụ tin học ở Singapore. Một Ủy ban máy tính Quốc gia (NCB) được thành lập để chỉ đạo công tác ƯDCNTT. Tại Philippines, kế hoạch CNTT Quốc gia công bố năm 1989 đã xác định chiến lược chung nhằm đưa CNTT phục vụ cho việc phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong những năm 90 của thế kỷ XX.
Trong giai đoạn hiện nay, theo tài liệu nghiên cứu thì một số nước trên thế giới đều công nhận vai trò của CNTT là không thể thiếu được trong ngành GD-ĐT nói chung và trong QL dạy và học nói riêng. Tác giả Chris Abbott đã khẳng định rằng: “ICT is changing the face of education - CNTT và truyền thông đang thay đổi bộ mặt của Giáo dục”, (Abbott, 2001). Với vai trò của CNTT trong dạy và học đã thật Luận văn thạc sĩ Khoa học giáo dục 9 sự cần thiết thì đối với nhà QL cần phải thực sự khôn ngoan, biết vận dụng có chiến lược, theo Kaka (1997) “Ngày nay CNTT đã và đang phát triển rất nhanh chóng; vì thế toàn bộ hệ thống giáo dục cần được cải cách và CNTT nên được tích hợp vào các hoạt động giáo dục”. Việc phát triển nhanh chóng của ƯDCNTT trong giáo dục đó cũng là sự thách thức đối với những nhà QL, khi nghiên cứu về thúc đẩy phát triển ƯDCNTT trong giáo dục, tác giả David Moursund, 2003 đã đưa ra nhận xét: “Lĩnh vực CNTT đang thay đổi nhanh chóng đến mức nó vượt quá khả năng cập nhật của đa số nhà lãnh đạo khiến họ ngần ngại” (trích từ Nguyễn Thanh Giang, 2014).
Từ đó, người viết nhận thấy được sự trở ngại lớn đối với các nhà QL trong việc ƯDCNTT là cập nhật kiến thức, thường đi sau nên họ ngần ngại. Mặt khác, theo tác giả McBeath và Myers (1999) cũng khẳng định: “Những tư tưởng chủ đạo cơ bản về việc sử dụng CNTT trong giáo dục tuy đã thay đổi nhưng thay đổi rất chậm”. Thời đại thông tin như hiện nay đã tạo nhiều cơ hội mới, đòi hỏi và thách thức mới đối với CBQL và GV. Nếu CBQL và GV đáp ứng được những yêu cầu mới thì vị thế được nâng lên.
“Bước đột phá chính trong việc nâng cao năng lực của các nhà QL để QL sự thay đổi bắt nguồn từ các lý thuyết và cách tiếp cận của khoa học hành vi được gọi là “phát triển tổ chức”, trong bài “Quản lí sự thay đổi”. Yêu cầu mới đó là CBQL và GV phải biết ƯDCNTT vào hoạt động QL và dạy học. Trong công tác QL, người CBQL phải có kiến thức và kỹ năng về CNTT để ứng dụng trong việc thực hiện các nhiệm vụ QL, giúp quá trình QL đạt được mục tiêu đã đặt ra. Đối với GV là phải biết định hướng, hướng dẫn, tổ chức việc thu thập và xử lý thông tin của HS, do đó ngoài trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sự phạm giáo viên còn phải có kiến thức và kỹ năng về CNTT trong quá trình dạy học.
Như vậy có thể nói, trên thế giới có rất nhiều công trình nghiên cứu về ƯDCNTT trong hoạt động dạy, hoạt động học và ƯDCNTT trong quản lí giáo dục rất cụ thể, rất khoa học. Tuy nhiên, hiện nay các đề tài nghiên cứu về quản lí ƯDCNTT ở trường THPT vẫn còn quá ít so với những yêu cầu của công tác QL ƯDCNTT ở các trường THPT. Luận văn thạc sĩ Khoa học giáo dục 10 1. Các nghiên cứu ở trong nước Bộ GD-ĐT đã ban hành kế hoạch số 345/KH-BGDĐT ngày 23 tháng 05 năm 2017 về việc thực hiện đề án “Tăng cường ƯDCNTT trong quản lí và hỗ trợ các hoạt động dạy – học, nghiên cứu khoa học góp phần nâng cao chất lượng GD-ĐT giai đoạn 2016 – 2020, định hướng đến năm 2025”; thông tư số 21/2017/TT-BGDĐT ngày 06 tháng 9 năm 2017 về Quy định ƯDCNTT trong hoạt động bồi dưỡng, tập huấn qua mạng Internet cho GV, NV và CBQL giáo dục.
Ở Việt Nam, vào những năm 80 việc ƯDCNTT trong GD-ĐT là đưa kiến thức tin học vào dạy trong nhà trường, thí điểm ở một vài địa phương. Từ năm học 1990- 1991, kiến thức tin học được đưa vào chương trình dạy học, đến năm học 1993- 1994, bộ môn tin học chính thức trở thành một môn học trong chương trình dạy học, có chương trình và sách giáo khoa riêng. CNTT trong GD-ĐT có tác dụng mạnh mẽ, làm thay đổi nội dung, phương pháp, phương thức dạy và học. CNTT là phương tiện để trao đổi thông tin đến mọi người trên toàn xã hội.
Mặt khác, GD-ĐT đóng vai trò quan trọng nhằm thúc đẩy sự phát triển của CNTT thông qua việc cung cấp nguồn nhân lực cho CNTT. Như vậy, việc ƯDCNTT vào giáo dục là nhu cầu tất yếu của nền giáo dục Việt Nam ở giai đoạn hiện nay và sau này. ƯDCNTT trong giáo dục giúp đổi mới phương pháp dạy của GV và phương pháp học của học sinh. Quá trình dạy học có sự chuyển hóa từ sự truyền đạt kiến thức của GV sang quá trình tự khám phá kiến thức của HS.
Việc ƯDCNTT trong DH và QL ƯDCNTT trong DH được nhiều nhà khoa học nghiên cứu và rút ra được những kết luận khoa học. Những kết quả này đã đóng góp không nhỏ trong việc dạy và học ở trường THPT. Tác giả Quách Tuấn Ngọc, khi nghiên cứu về ƯDCNTT trong dạy học, ông cho rằng: Quá trình dạy học gồm hai hoạt động chính, đó là hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò. Hoạt động dạy và hoạt động học thực chất là các hoạt động “phát” và “thu” thông tin.
Học là quá trình thu thông tin có định hướng, có sự tái tạo và phát triển thông tin. Bởi vậy người dạy phải phát ra được nhiều thông tin liên quan đến mục đích dạy học. Người học thu nhận thông tin bằng nhiều cửa: tai, Luận văn thạc sĩ Khoa học giáo dục 11 mắt, da, mũi… Người dạy phải biết cách phát thông tin để người học thu nhận, tái tạo, phát triển và lưu giữ thông tin một cách tốt nhất. Còn tác giả Trần Bá Hoành (2005) cho rằng: “Học là quá trình thu nhận và xử lý thông tin từ môi trường, tích hợp thông tin mới nhận vào hệ thống thông tin đã tích lũy, làm cho chủ thể người học tự biến đổi mình”.
Theo Tập đoàn Intel phối hợp với Viện công nghệ máy tính xây dựng chương trình dạy học của Intel (Intel teach to the future) thì việc ƯDCNTT trong dạy học: “nhằm trợ giúp các GV phát huy khả năng sáng tạo của mình và của HS ra ngoài phạm vi trường học. Chương trình nhằm mục đích giúp GV sử dụng công nghệ máy tính để phát triển trí tưởng tượng của HS và cuối cùng là dẫn dắt các em tới một phương pháp học hiệu quả hơn”. Trong những năm qua, việc nghiên cứu ƯDCNTT trong giáo dục đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nhưng việc nghiên cứu quản lí ƯDCNTT trong đổi mới giáo dục chưa được đề cập cụ thể. Một số hội nghị, hội thảo hay trong một số luận văn thạc sỹ QLGD nghiên cứu về CNTT đã đề cập đến vấn đề quản lí ƯDCNTT trong quá trình DH như: Hội thảo khoa học “Nghiên cứu và triển khai E-Learning” do Viện CNTT (Đại học Quốc gia Hà Nội) và Khoa CNTT (Đại học Bách khoa Hà Nội), 2005 đã phối hợp tổ chức đầu tháng 3 năm 2005, đã đề ra hướng phát triển môi trường học tập của người học trong giai đoạn mới, phù hợp với xu thế phát triển của CNTT dựa vào ƯDCNTT.
Hội thảo khoa học toàn quốc về CNTT&TT “Các giải pháp công nghệ và QL trong ƯDCNTT&TT vào đổi mới PPDH” tổ chức từ 9 – 10/12/2006 tại Trường ĐHSP Hà Nội. Nội dung hội thảo tập trung vào việc đổi mới phương pháp dạy học, chiến lược phát triển ƯDCNTT trong việc đổi mới phương pháp dạy học, kết quả và kiểm nghiệm việc ƯDCNTT trong dạy học. (Trường ĐHSP Hà Nội và Dự án Giáo dục đại học, 2006); Hội thảo “Các giải pháp công nghệ và QL ƯDCNTT trong giáo dục” được tổ chức tại ĐHQG thành phố Hồ Chí Minh do hãng Microsoft tài trợ - năm 2006. Báo cáo tham luận tại hội nghị quốc tế về ƯDCNTT trong dạy học tích Luận văn thạc sĩ Khoa học giáo dục 12 cực tại Singapore với nội dung “Phát triển nguồn học tập đa phương tiện”.
Tác giả Phạm Hữu Khang, 2010 có công trình nghiên cứu về “Xây dựng ứng dụng Web bằng PHP & MySQ”. Các tác giả Phó Đức Hòa, Ngô Quang Sơn,2008 nghiên cứu về “Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học tích cực”. Tác giả Đào Thái Lai, 2005 với đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ: “ƯDCNTT trong dạy học ở trường phổ thông Việt Nam” (2003-2005) đã đưa ra những nguyên tắc chung và phương pháp ƯDCNTT trong dạy học một số môn học. Tác giả Lê Công Triêm và Nguyễn Đức Vũ, 2006 với cuốn sách “ƯDCNTT trong dạy học” đã đề cập đến vấn đề ƯDCNTT trong đổi mới PPDH.