Đặt vấn đề Như chúng ta đã biết rừng là nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quan trọng, nó không chỉ cung cấp lương thực, thực phẩm, nguyên vật liệu, các loại lâm sản quý hiếm mà còn góp phần bảo vệ môi trường. Tính đến ngày 31/12/2009, diện tích rừng toàn quốc là 13.305ha rừng tự nhiên và 2.538ha rừng trồng (Trần Thị Thanh Tâm, 2010) [11].Vốn được mệnh danh là "lá phổi xanh" của trái đất, rừng có vai trò rất quan trọng trong việc duy trì cân bằng sinh thái và sự đa dạng sinh học trên hành tinh chúng ta. Góp phần phòng chống thiên tai, cung cấp lâm sản, bảo vệ môi trường cho hôm nay và mai sau. Đồng thời, rừng còn đóng góp to lớn trong việc bảo vệ và phát triển kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng của đất nước gắn liền với đời sống của nhân dân.
Đặc biệt Việt Nam là một nước nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa nên không chỉ có diện tích rừng và đất rừng lớn mà còn rất phong phú và đa dạng về thành phần loài động thực vật, do đó càng làm phát huy được vai trò tối đa của rừng. Nhưng hiện nay do sức ép của dân số cùng với đó nhu cầu về vật chất và tinh thần cũng không ngừng tăng lên, công tác quản lý và bảo vệ còn nhiều bất cập, sâu bệnh hại phát dịch lớn khiến diện tích rừng bị suy giảm nghiêm trọng cả về số lượng và chất lượng. Việc mất rừng gây mất cân bằng sinh thái đã gây ra lũ lụt, hạn hán, thủng tầng ôzôn, nhiệt độ trái đất tăng lên… gây ảnh hưởng đến cuộc sống của con người, sự sinh trưởng phát triển của các loài sinh vật trên trái đất. Bởi vậy, bảo vệ rừng và nguồn tài nguyên rừng luôn trở thành một nội dung, một yêu cầu không thể trì hoãn đối với tất cả các quốc gia trên thế giới trong cuộc chiến đầy gian khó hiện nay nhằm e 2 bảo vệ môi trường sống đang bị huỷ hoại ở mức báo động mà nguyên nhân chủ yếu là do chính hoạt động của con người gây ra.
Đứng trước thực trạng trên Đảng và nhà nước ta đã có rất nhiều chủ trương, chính sách chỉ đạo nhằm thực hiện mục tiêu bảo vệ rừng, trồng rừng mới. Để đáp ứng mục tiêu nâng tỉ lệ đất có rừng lên 42,6% vào năm 2010 và đạt 47% vào năm 2020 (Bộ NN & PTNT, 2005) [3] đã có rất nhiều trương trình trồng rừng được triển khai như dự án: 661, 135, 327…Bên cạnh trồng những loài cây bản địa thì các cây nhập nội có hiệu quả kinh tế cao cũng được trồng ở các tỉnh nước ta như keo, mỡ, lát, bạch đàn… trong đó miền bắc loài cây phổ biến là keo. Chi keo (Acasia ) gồm các loài cây ưa sáng mọc nhanh, sinh trưởng và phát triển mạnh, trồng phủ xanh đất trống đồi núi trọc, có tác dụng cải tạo đất. Gỗ thường được dùng làm nguyên liệu giấy, ván dăm, gỗ trụ mỏ…(Lê Mộng Chân và cộng sự, 2000) [4] keo là loài cây có đặc tính tốt, nhưng đây cũng là loài cây dễ bị nhiễm sâu bệnh hại, trong đó có cách loài mối là nhóm loài côn trùng phá hoại gỗ mạnh.
Mối (Isoptera) thuộc nhóm côn trùng sống có tính chất xã hội, có sự phân hóa cao về hình thái và chức năng. Khác với nhiều loại côn trùng đơn sinh, mỗi tổ mối là một “ đơn vị sống” hoặc được coi là một “ xã hội” riêng biệt. Trong mỗi tổ mối tùy theo từng loài có từ vài trăm con đến vài chục triệu con. Với đặc tính làm tổ và hoạt động tinh vi cùng với khả năng phân giải các nguồn gốc từ xenluloza, mối đang được xem là một trong những côn trùng gây thiệt hại lớn nhất.
Loài thức ăn ưa thích của mối là xenlulo do đó chúng là côn trùng phá hoại gỗ rất mạnh, ảnh hưởng rất lớn tới cây rừng. Mối chúng sống dưới đất phá hoại ngầm trong thân cây do vậy khó phát hiện ở giai đoạn đầu xâm hại. Theo thống kê chưa đầy đủ của Mỹ (Đặng Kim Tuyến và cộng sự, 2008 ) [13] hàng năm thiệt hại do mối gây ra vào khoảng 150 triệu USD. e 3 Bởi vậy vấn đề đặt ra là cần nghiên cứu biện pháp hợp lý, kết hợp được nhiều phương pháp để vừa có thể phòng trừ sâu hại có hiệu quả mà ít ảnh hưởng tới môi trường và các sinh vật có ích trong hệ sinh thái rừng.
Cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội, các loài mối gây hại càng phát triển mạnh, phổ biến rộng khắp. Thái Nguyên là một trong những tỉnh trồng rừng keo khá phổ biến, trong những năm gần đây hiện tượng mối phá hoại rừng đã gây nên những tổn thất không nhỏ trong việc kinh doanh rừng tại địa phương. Tuy nhiên việc nghiên cứu các biện pháp phòng trừ mối hại keo ở rừng trồng còn rất nhiều hạn chế, chưa được áp dụng rộng rãi và ít được quan tâm. Nhận thức tầm quan trọng của công tác bảo vệ rừng và xuất phát từ thực tế trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Khảo nghiệm một số biện pháp phòng trừ mối (Isoptera) hại rừng trồng keo (Acasia) tại xã Tân Thịnh, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên”.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài Đề tài thực hiện nhằm đạt các mục tiêu sau: - Đánh giá được hiệu quả một số biện pháp phòng trừ Mối đối với rừng trồng keo tại xã Tân Thịnh, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên. - Đề xuất các biện pháp phòng trừ mối phù hợp giúp cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt hơn, góp phần nâng cao năng suất chất lượng rừng trồng keo tại khu vực nghiên cứu. Ý nghĩa nghiên cứu 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Qúa trình thực hiện đề tài sẽ giúp sinh viên làm quen với việc nghiên cứu khoa học, cũng cố kiến thức đã học, vận dụng lý thuyết vào thực tế, biết các thu thập, phân tích và xử lý thông tin cũng như kỹ năng tiếp cận và làm việc với cộng đồng thôn bản và người dân.
- Nắm vững được các phương pháp điều tra mối hại cây tại rừng trồng. e 4 - Tìm hiểu thêm về các kinh nghiệm, kỹ thuật phòng trừ được áp dụng trong thực tiễn địa phương. Ý nghĩa trong thực tiễn - Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở để vận dụng vào thực tiễn sản xuất phòng trừ mối hại rừng keo một cách có hiệu quả hơn. - Lựa chọn các biện pháp phòng trừ mối tốt nhất mà đề tài đã khảo nghiệm giúp cho rừng trồng keo sinh trưởng phát triển tốt hơn, hạn chế được những thiệt hại do mối gây ra.
e 5 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Tổng quan tài liệu 2. Cơ sở khoa học Côn trùng là lớp động vật hết sức phong phú, đa dạng về thành phần loài, đồng thời là loại đông đúc nhất về số lượng. Trong tự nhiên không có một lớp động vật nào có thể sánh với côn trùng về mức độ phong phú đến kỳ lạ về thành phần loài.
Các nhà khoa học ước tính lớp côn trùng có tới 8-10 triệu loài, chiếm tới 78% số loài của toàn bộ giới động vật được biết đến trên trái đất (Nguyễn Viết Tùng, 2006) [12]. Chúng có mặt khắp mọi nơi, ảnh hưởng vào mọi quá trình sống trên hành tinh của chúng ta. Trong đó có đời sống con người. Mối là một trong những nhóm loài côn trùng gây hại kinh tế quan trọng trên thế giới vì chúng phá hoại gỗ và cây trồng.
Chúng có mặt ở khắp mọi nơi trên trái đất với gồm 3000 loài và tập trung nhiều nhất ở các vùng khí hậu nhiệt đới. Mối có thể phân bố ở độ cao đến 2000m so với mực nước biển. Mối có đời sống xã hội kín đáo, sống và làm tổ trong đất hoặc trong gỗ, chúng ăn hại tất cả các sản phẩm chứa xenlulo. Trong đất mối có thể phân bố đến độ sâu 5m, đôi khi lên tới khoảng 36m.
Mối ăn hại tất cả các sản phẩm xenlulo và gây hại các đê điều, cầu cống, các công trình xây dựng có sử dụng tre gỗ nứa.và phá hoại cây trồng cả cây sống lẫn cây chết. Trong tổ mối việc duy trì hoạt động của quần thể được phân hóa theo các chức năng riêng, mối thợ làm nhiệm vụ lấy thức ăn và giúp cả gia đình nhà mối tiêu hóa thức ăn, vì vậy “ dạ dày của mối thợ được coi là dạ dày của cả gia đình nhà mối” vì chỉ trong dạ dày của mối thợ mới có vi khuẩn cộng sinh giúp mối tiêu hóa xenlulo. Đặc biệt mối rất thích ăn gỗ thông, gỗ trám, e 6 gỗ bồ đề… Đây là cơ sở để chúng ta phòng trừ mối bằng các loại mồi nhử và diệt mối tận gốc bằng con đường lây nhiễm bệnh từ mối thợ. Việt Nam là nước nằm trong vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới nên rất thuận lợi cho mối sinh trưởng và phát triển.
Chúng phân bố và gây hại từ bắc vào nam. Ở nước ta theo thống kê về mối, có khoảng trên 60 loài mối, trong đó khoảng 25 loài mối chuyên phá hoại các công trình kiến trúc, 30 loài hại đê đập và hàng chục loài hại cây trồng (Trần Thái Hải, 2007) [5]. Để hạn chế tác hại do côn trùng đặc biệt là loài mối gây ra để phát huy được những lợi ích của các loại côn trùng. Sinh thái học côn trùng là môn nghiên cứu đặc tính sinh học, sinh thái của các loài côn trùng.
Trên cơ sở đó ứng dụng vào thực tiễn sản xuất, trồng rừng phát huy những lợi ích và hạn chế tác hại của các loài côn trùng. Đồng thời để nghiên cứu đề xuất các biện pháp phòng trừ hợp lý đối với từng loại côn trùng có hại như: biện pháp tổng hợp, biện pháp sinh học, biện pháp cơ giới vật lý…để ngăn chặn những thiệt hại do côn trùng gây ra. Biện pháp lâm sinh: Đây là phương pháp thông qua hàng loạt các biện pháp kỹ thuật canh tác hợp lý trong các khâu sản xuất để tạo ra những diện tích cây trồng khỏe mạnh, có sức kháng sâu bệnh cao, thúc đẩy quá trình cân bằng sinh thái, hạn chế sự phát sinh, phát triển của sâu hại. Biện pháp lâm sinh bao gồm: Chọn giống, xử lý giống, xử lý đất, chăm sóc… Biện pháp cơ giới vật lý: Không gây hại cho môi trường nhưng lại yêu cầu công lao động lớn và hiệu quả không cao, hiệu quả lao động phụ thuộc vào việc tổ chức lao động.