Đặt vấn đề Ở nước ta, dê là một loài vật truyền thống và được phân bố khá rộng rãi, đặc biệt là các vùng trung du và miền núi phía Bắc. Đàn dê chiếm một tỷ lệ khá lớn và được chăn nuôi theo phương thức quảng canh, tận dụng nguồn thức ăn thiên nhiên là chủ yếu. Con dê ngày càng khẳng định được những ưu thế của nó trong ngành chăn nuôi ở nước ta. Tỉnh Thái Nguyên là một tỉnh thuộc vùng Trung du và miền núi phía Bắc, số lượng dê của tỉnh (theo niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên năm 2018, 2019)[30], [31]cũng có sự biến động qua các năm, cụ thể năm 2019 tổng số đàn dê là 21.981 con so với tháng 10/2018 là 42.164 con giảm đi 20183 con (52,13%) giảm hơn so với tháng 12/2017 là 12.
Do số lượng dê bị giảm nên kéo theo sản lượng thịt hơi xuất chuồng cũng giảm. Mặc dù con dê đã và đang dần khẳng định được những ưu thế của nó nhưng để ngành chăn nuôi dê phát triển hơn nữa cần rất nhiều yếu tố để thúc đẩy. Đặc biệt là những nghiên cứu sâu hơn về các yếu tố gây bệnh các bệnh thường gặp và các phương pháp điều trị bệnh thường gặp trên đàn dê cũng đóng vai trò quan trọng. Dê có tính thích nghi cao với điều kiện sống khác nhau, bộ máy tiêu hóa của dê rất phát triển, có thể tiêu hóa nhiều chất xơ.
Dê ăn được nhiều loại cỏ cây, có thể ăn trên đồi núi dốc, nơi mà trâu bò không thể tới.Thịt dê, sữa dê và các sản phẩm khác từ dê có giá trị cao. Đặc biệt, thịt và sữa dê chiếm vị trí quan trọng trong việc cung cấp nguồn protein động vật cho người ở các nước đang phát triển. Vì những ưu điểm nói trên, chăn nuôi dê có vai trò không thể thiếu trong sự phát triển kinh tế - xã hội, trong cải thiện kinh tế gia đình, góp phần m 2 vào việc xóa đói giảm nghèo ở các địa phương. Trong quá trình chăn nuôi dê thường xảy ra các bệnh truyền nhiễm như: tiêu chảy, viêm loét miệng, viêm phổi, viêm kết mạc, ký sinh trùng, viêm vú.
Vì vậy, nghiên cứu biện pháp phòng trị các bệnh này là việc rất quan trọng.Xuất phát từ vấn đề thực tiễn trên tôi tiến hành thực hiện đề tài “Thực hiện các biện pháp phòng trị bệnh thường gặp trên đàn dê địa phương nuôi tại xã Tức Tranh, huyện Phú Lương, Thái Nguyên”. Mục tiêu nghiên cứu - Tìm hiểu biện pháp phòng và điều trị một số bệnh thường gặp trên đàn dê địa phương Định Hóa nuôi tại Hợp tác xã Chăn nuôi động vật Bản địa, xã Tức Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. Mục đích nghiên cứu - Đưa ra được giải pháp phòng bệnh thường gặp trên đàn dê địa phương nuôi tại trại Điều trị một số bệnh thường gặp trên dê hiệu quả để giải quyết những khó khăn về dịch bệnh trên đàn đê địa phương Định Hóa nuôi tại Hợp tác xã Chăn nuôi động vật Bản địa xã Tức Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa khoa học - Thu thập những thông tin khoa học về đặc điểm dịch tễ và lâm sàng một số bệnh truyền nhiễm thường xảy ra ở dê tại Hợp tác xã Chăn nuôi động vật Bản địa. - Đề tài là cơ sở để xây dựng quy trình phòng trị một số bệnh thường xảy ra cho dê có hiệu quả cao. - Đề tài là cơ sở hướng dẫn cho người chăn nuôi dê nâng cao hiệu quả phòng và điều trị một số bệnh thường gặp trên dê. Qua đó, nâng cao hiệu quả, hiệu suất sản xuất kinh tế trong chăn nuôi dê.
m 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Điều kiện cơ sở nơi thực tập * Điều kiện tự nhiên - Phú Lương là huyện miền núi, nằm ở vùng phía Bắc của tỉnh Thái Nguyên. Phía Bắc giáp với huyện Chợ Mới (tỉnh Bắc Kạn); phía Nam và Đông Nam giáp thành phố Thái Nguyên; phía Tây giáp huyện Định Hóa; phía Tây Nam giáp huyện Đại Từ; phía Đông giáp huyện Đồng Hỷ. Huyện lỵ đặt tại thị trấn Đu, cách trung tâm thành phố Thái Nguyên 22km về phía Bắc.
- Hợp tác xã Chăn nuôi động vật Bản địa: nằm trên địa bàn xóm Gốc Gạo, xã Tức Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. Tổng diện tích tự nhiên 5,8ha. Địa giới hành chính tiếp giáp với các xã sau: phía Đông Bắc và Đông tiếp giáp với xã Phú Đô; phía Tây và Tây bắc tiếp giáp xã Yên Lạc; phía Nam giáp với xã Vô Tranh. * Điều kiện về khí hậu - Huyện Phú Lương: khí hậu mang tính chất nhiệt đới gió mùa, chia làm 2 mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô, nhiệt độ trung bình trong năm khoảng 210C, độ ẩm tương đối cao, trung bình 80,67%.
Số giờ nắng trung bình trong năm là 1.360 giờ, lượng mưa trung bình từ 2. Khí hậu Phú Lương rất thuận tiện cho việc chăn nuôi gia súc như trâu, bò, ngựa, đặc biệt là dê. - Hợp tác xã Chăn nuôi động vật Bản địa: nằm trong khu vực trung du và miền núi phía Bắc nên có đặc điểm chung về thời tiết của khu vực. Khí hậu chia làm hai mùa rõ rệt đó là mùa mưa và mùa khô.
Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 nhưng lượng mưa chủ yếu tập chung vào các tháng 6, 7, 8. Những tháng còn lại lượng mưa thấp hơn. Nhiệt độ trung bình từ 23˚C - m 4 28˚C. Độ ẩm tương đối từ 80 - 85%.
Mùa khô kéo dài từ tháng 11 năm trước tới tháng 4 năm sau, đặc điểm của những tháng này là lượng mưa ít, nhiệt độ thấp, thời tiết khô lạnh. Nhiệt độ trung bình từ 15 - 19˚C. Có những thời điểm nhiệt độ xuống tới 4 - 7˚C, độ ẩm tương đối 70 - 75%. Nhìn chung điều kiện khí hậu khá thuận lợi cho sản xuất của trang trại.
Tuy nhiên sự khác biệt giữa 2 mùa là điều kiện bất lợi cho sản xuất. Lượng mưa tập chung vào tháng 6, 7, 8 cộng với địa hình đất canh tác bằng phẳng, pha cát dẫn đến hiện tượng ngập úng cây trồng. Ngược lại mùa khô kéo dài nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất cây thức ăn cho đàn gia súc. * Giao thông - Huyện Phú Lương: cách thành phố Thái Nguyên 20km về phía Nam.
Các xã gần trục đường chính nên rất thuận tiện cho việc đi lại, vận chuyển con giống, thức ăn, vật tư thú y cũng như các sản phẩm chăn nuôi. - Hợp tác xã Chăn nuôi động vật Bản địa: nằm ở xã Tức Tranh có điều kiện giao thông thuận lợi. Cách thành phố Thái Nguyên 25km về phía Tây Nam theo tuyến quốc lộ 3. * Thủy lợi - Sông suối ở Phú Lương có nhiều nhưng không có giá trị giao thông đường thủy song phân bố đều nên đóng vai trò quan trọng trong việc tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp.
Kênh, mương, cống thoát tại địa phương được đầu tư xây dựng đảm bảo công tác cấp thoát nước phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt, sản xuất, chăn nuôi. - Hợp tác xã Chăn nuôi động vật Bản địa có dòng Sông Cầu chảy qua nên thường xuyên cung cấp nước cho trồng trọt và chăn nuôi. Trang trại còn xây dựng hệ thống ống dẫn nước cho sản xuất. Chính vì vậy, diện tích sản xuất của trang trại được đảm bảo về nước tưới.
m 5 * Điều kiện về địa hình, đất đai - Huyện Phú Lương: Là vùng đồi núi phía Bắc độ dốc lớn, phía Nam địa hình khá bằng phẳng, xen đồi thấp. Rừng và đồi núi chiếm khoảng 75% diện tích toàn huyện. - Hợp tác xã Chăn nuôi động vật Bản địa: có địa hình bằng phẳng, có dòng Sông Cầu chảy qua, đất đai tương đối màu mỡ, tầng đất canh tác khá dầy. Đây là điều kiện tương đối thuận lợi cho việc sản xuất của trang trại, đặc biệt là sản xuất cây thức ăn xanh phục vụ cho đàn gia súc.
Trong những năm gần đây trại đã đầu tư cho thử nghiệm các giống cây thức ăn xanh có năng xuất cao và giá trị dinh dưỡng cao. Chính vì vậy, mà đã giải quyết được nhu cầu thức ăn xanh cho gia súc vào mùa mưa và có thức ăn dự trữ cho mùa khô. Tổng diện tích của trang trại là 5,8ha trong đó có 1,5ha là diện tích trồng cây thức ăn cho gia súc. Diện tích đồng cỏ chăn thả là 1ha.
Như vậy, đây là điều kiện khá thuận lợi cho phát triển cây thức ăn gia súc. * Điều kiện kinh tế - xã hội - Huyện Phú Lương: từ những điều kiện tự nhiên, khí hậu, địa hình và đất đai chăn nuôi dê đã sớm phát triển trong toàn huyện. Chăn nuôi dê đã giúp nhiều hộ dân trong xã thoát nghèo, vươn lên làm giàu. Lãnh đạo, các cơ quan ban ngành trong huyện cũng đã quan tâm nhiều đến ngành chăn nuôi trong huyện trong đó có chăn nuôi dê.
Hàng năm vào hai vụ Xuân - Hè và Thu - Đông đều tổ chức tiêm phòng các bệnh truyền nhiễm cho trâu bò, dê, kết hợp với việc hỗ trợ dê giống và tư vấn kỹ thuật chăn nuôi, chăm sóc cho bà con nên đàn dê trong huyện tăng đều cả về số lượng và chất lượng. Chăn nuôi dê trong xã chủ yếu tập chung vào nuôi dê sinh sản và dê thịt. Huyện Phú Lương được bao bọc bởi các dãy núi đá và đa số người dân hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp.Với những lợi thế về điều kiện tự nhiên và con người, Phú Lương đã sớm hình thành nghề nuôi dê. Những thuận lợi đó đã thúc đẩy nghề m 6 chăn nuôi dê trên toàn huyện phát triển mạnh vào những năm gần đây.
Nhiều hộ dân đã chủ động đầu tư vào đàn dê để làm giàu và đã có rất nhiều tấm gương thành công từ con dê. Về phía chính quyền và các tổ chức cũng chú trọng đầu tư vào con dê để hỗ trợ các hộ nghèo, các khu vực khó khăn. - Hợp tác xã Chăn nuôi động vật Bản địa: là một trung tâm nghiên cứu, phát triển ngành chăn nuôi các vật nuôi bản địa của tỉnh trung du và miền núi. Cơ sở có nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, nghiên cứu đề tài và cải tiến khoa học kỹ thuật, sáng tạo ra những phương pháp cải tiến trong chăn nuôi và sản xuất.
Cơ sở đã từng bước khẳng định mình và tạo được thế đứng trong xã hội bằng cách ngày càng nhân rộng các mô hình, áp dụng các khoa học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất. Đến nay trang trại đã khẳng định được sự tồn tại, vị thế của mình trong sự nghiệp phát triển chăn nuôi khu vực miền núi và nền kinh tế thị trường.