phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng Chƣơng 1: Cơ sở lí luận về biện pháp tổ chức phối hợp giữa bảo tàng và nhà trƣờng trong giáo dục đạo đức cho học sinh THCS Chƣơng 2: Thực trạng công tác tổ chức phối hợp giữa bảo tàng và nhà trƣờng trong giáo dục đạo đức cho học sinh THCS tại Hà Nội Chƣơng 3: Một số biện pháp tổ chức tăng cƣờng phối hợp giữa bảo tàng và nhà trƣờng trong giáo dục đạo đức cho học sinh THCS nội thành Hà Nội 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP TỔ CHỨC PHỐI HỢP GIỮA BẢO TÀNG VÀ NHÀ TRƢỜNG TRONG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Đạo đức là một trong hai mặt của cấu trúc nhân cách “Đức và Tài” của ngƣời Việt Nam. Vì thế, giáo dục đạo đức trong quá trình hình thành, phát triển nhân cách con ngƣời đã đƣợc xã hội rất quan tâm. Xôcrat (469-399 Trcn) - một triết gia Hy Lạp cổ đại cho rằng, giáo dục con ngƣời ta là chủ yếu phải giáo dục đạo đức để tìm tòi nhận thức một chân lý lâu bền, một hạnh phúc chân chính giữa cái thiện và cái ác.
Aritxtốt (384 – 322 Trcn) cũng khẳng định: phải giáo dục con ngƣời ta về đạo đức để phát triển ý chí, giảng dạy văn hoá để phát triển lý trí, giảng dạy thể dục, thể thao để phát triển thể lực. Con ngƣời đƣợc hợp thành bằng ba bộ phận: Xƣơng thịt, ý chí và lý trí. Tƣơng ứng với ba bộ phận đó, 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhà trƣờng phải thực hiện đức dục, trí dục và thể dục [25, 10]. Nhà giáo dục lỗi lạc Rabơle (1490 – 1553) cũng khẳng định “ Khoa học mà không có lƣơng tâm chỉ là sự phá hoại tâm hồn " [25, 38].
Mặc dù lịch sử xã hội ngày càng phát triển, nội dung giáo dục nhà trƣờng ngày càng phong phú, song giáo dục đạo đức bất luận ở quốc gia nào, dƣới chế độ nào cũng đều đƣợc quan tâm. Nhà trƣờng Việt Nam trải qua hàng ngàn năm dƣới chế độ phong kiến và phong kiến thực dân cho đến nay giáo dục đạo đức cho học sinh vẫn giữ nguyên vị trí vô cùng quan trọng của nó. Từ sau cách mạng tháng 8 năm 1945, nền giáo dục Việt Nam với mục đích giáo dục đào tạo con ngƣời phát triển toàn diện, đặc biệt gắn 2 mặt đức, tài khi quan điểm lấy đức làm gốc của chủ tịch Hồ Chí Minh đƣợc quán triệt trong sự nghiệp đào tạo, giáo dục ngƣời công dân chân chính nói chung, thế hệ trẻ nói riêng. Song làm thế nào để phát huy đƣợc thế mạnh của các lực lƣợng trong công tác giáo dục học sinh? Câu hỏi này đã đƣợc quan tâm nghiên cứu và hƣớng nghiên cứu chính là tìm kiếm các biện pháp để phối hợp giữa nhà trƣờng, gia đình và xã hội cùng thực hiện đƣợc mục đích giáo dục đạo đức cho học sinh.
Vấn đề phối hợp 3 lực lƣợng “Nhà trường, gia đình và xã hội nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho học sinh ” đã trở thành một đề tài nghiên cứu khoa học của các nhà giáo dục. Những nhà giáo dục đã đi sâu vào đề tài này nhƣ: Hà Thế Ngữ; Đức Minh; Đặng Vũ Hoạt đã đề cập đến vai trò, vị trí, ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với sự phối hợp giữa nhà trƣờng, gia đình và xã hội để nâng cao hiệu quả giáo dục học sinh. Vấn đề phối hợp các lực lƣợng giáo dục trong giáo dục đạo đức cho học sinh đƣợc đƣa vào nội dung giáo trình giáo dục học của tác giả Phạm Cốc - Đức Minh vào những năm 70, sau đó là của Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt [33]. Vấn đề này cũng đƣợc đƣa vào một số giáo trình khác nhƣ giáo dục gia đình của tác giả Phạm Khắc Chƣơng [6; 8].
Trong những thập niên vừa qua cũng đã có những luận văn thạc sỹ liên quan đến vấn đề giáo dục đạo đức, quản lý vấn đề giáo dục đạo đức ở tiểu học, 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trung học cơ sở, trung học phổ thông của một số tác giả nhƣ: Nguyễn Văn Toàn với đề tài: “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức trong hoạt động ngoài giờ lên lớp ở trường tiểu học” [37]; tác giả Nguyễn Thị Hiển với đề tài: “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức trong nhà trường phổ thông cơ sở” [22]. Mặc dù đã có những Hội thảo khoa học về vai trò của bảo tàng đối với công tác giáo dục giá trị truyền thống, giáo dục đạo đức cho học sinh, nhƣng cho đến nay, chƣa có một nghiên cứu nào có tính chất hệ thống về vấn đề tổ chức phối hợp giữa bảo tàng và nhà trƣờng để giáo dục đạo đức cho học sinh. Việc nghiên cứu chỉ dừng lại ở vị trí, vai trò của bảo tàng trong giáo dục cộng đồng nói chung và giáo dục học sinh phổ thông nói riêng. Trên thế giới, mặc dù việc gắn kết các bảo tàng với trƣờng học đã đƣợc thực hiện từ rất lâu nhƣng cũng không thấy có một tài liệu chính thống nào đƣa ra những phƣơng thức cụ thể để thực hiện, ngoài việc nêu lên tầm quan trọng của công tác giáo dục bảo tàng.
Tháng 5/2006, Cục Di sản văn hoá phối hợp với bảo tàng Hồ Chí Minh tổ chức cuộc hội thảo khoa học-thực tiễn với chủ đề “Bảo tàng với công tác giáo dục học sinh”. Hội thảo cũng mới chỉ dừng lại ở việc bàn về những cơ hội, khả năng liên kết giáo dục cộng đồng của bảo tàng và làm thế nào để thiết lập mối liên hệ giữa bảo tàng với các cơ quan giáo dục khác, mà trƣớc hết là nhà trƣờng. Nói cách khác, vấn đề quản lý công tác phối hợp các lực lƣợng giáo dục nói chung, phối hợp giữa bảo tàng và nhà trƣờng nói riêng trong giáo dục đạo đức cho học sinh vẫn còn là một mảnh đất trống vắng, thiếu vắng những công trình nghiên cứu một cách đầy đủ dù là từng mặt của vấn đề. Những phân tích trên một lần nữa khẳng định tính cấp thiết của vấn đề đƣợc tác giả luận văn lựa chọn làm đề tài nghiên cứu.
Các khái niệm công cụ 1. Tổ chức 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong khoa học quản lý, thuật ngữ “tổ chức” thƣờng đƣợc hiểu với hai nghĩa [17]: i) Tập thể ngƣời liên kết với nhau theo những quy chế nhất định và cùng hoạt động vì mục đích chung, ví dụ nhƣ: tổ chức Đoàn thanh niên, tổ chức Hội Phụ nữ, tổ chức Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em,… Theo C.I Barnard: “Tổ chức là một hệ thống hợp tác những hoạt động hoặc là những lực lƣợng hiệp đồng một cách có ý thức của từ hai ngƣời trở lên”. Hai nhà tâm lý quản lý khác T. Reiley thì cho rằng: “Tổ chức là một hình thức tổ hợp của những ngƣời có mục đích chung.
Một quần thể tổ chức muốn đạt mục tiêu một cách có hiệu quả thì mỗi ngƣời, mỗi việc khác nhau, nhƣng phải dựa trên nguyên tắc hiệp đồng hợp tác”. Theo Robbins và Barnwell năm 1994 thì ý nghĩa tổ chức là “Một thực thể xã hội phối hợp có ý thức với biên giới tƣơng đối xác định, thực hiện các chức năng trên cơ sở tƣơng đối liên tục để đạt đƣợc mục tiêu hay hệ thống mục tiêu chung”. Hoạt động của chủ thể sắp xếp các yếu tố thành một chỉnh thể, theo cơ cấu nhất định để hoạt động có hiệu quả. Đó có thể là hoạt động của một thủ lĩnh, một lãnh tụ: “Bác Hồ là ngƣời tổ chức và rèn luyện Đảng ta.
Trong một tổ chức có thể là một hoạt động, một chức năng của nhà quản lý: Tổ chức lại bộ máy của đơn vị, tổ chức đào tạo giáo dục các đối tƣợng khác nhau theo yêu cầu, trình độ của từng nhóm. ii) Tổ chức đƣợc hiểu theo nghĩa là một quá trình phân công, phối hợp các nhiệm vụ và các nguồn lực để đạt đƣợc các mục tiêu đã đƣợc vạch ra. Nhà quản lý là ngƣời phân bổ và sắp xếp các nguồn lực. Một phần quan trọng trong việc phối hợp các nguồn nhân lực là phân công các công việc và nhiệm vụ khác nhau cho các thành viên trong tổ chức.
Hoạt động của quản lý không thể thiếu vai trò của tổ chức. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Phối hợp trong quản lí - Quản lí Trong các giáo trình và tài liệu về quản lí, khi trình bày khái niệm quản lí, ngoài việc trích dẫn những tƣ tƣỏng của các tác giả kinh điển của lí luận chủ nghĩa Mác - Lênin, các tác giả thƣờng dẫn ra quan điểm của một số tác giả nƣớc ngoài nhƣ: Frederich Winslon Taylor (1855-1915); Henry Fayol (1841-1925); Mary Parkor Pollet (1868-1933); Harold Koontz. và một số tác giả Việt Nam nhƣ: Nguyễn Hoàng Toàn, Nguyễn Ngọc Quang, Hồ Văn Vĩnh, Phạm Minh Hạc, Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Duy Quý, Bùi Trọng Tuân.
Mặc dù có những cách diễn đạt khác nhau, song có thể khái quát nội dung cơ bản của quản lí đƣợc đề cập đến trong các quan niệm trên là: 1/ Quản lý là thuộc tính bất biến, nội tại của mọi quá trình hoạt động xã hội. Lao động quản lý là điều kiện quan trọng để làm cho xã hội loài ngƣời tồn tại, vận hành phát triển; 2/ Quản lý đƣợc thực hiện với một tổ chức hay một nhóm xã hội; 3/ Quản lý là những tác động có tính hƣớng đích, là những tác động phối hợp nỗ lực của các cá nhân thực hiện mục tiêu của tổ chức; 4/ Yếu tố con ngƣời, trong đó chủ yếu bao gồm ngƣời quản lý và ngƣời bị quản lý giữ vai trò trung tâm trong chu trình, trong hoạt động quản lý. Từ những phân tích trên, tác giả luận văn lựa chọn định nghĩa khái niệm quản lí dƣới đây làm khái niệm công cụ để nghiên cứu đề tài: Quản lý là quá trình tiến hành những hoạt động khai thác, lựa chọn, tổ chức và thực hiện các nguồn lực, các tác động của chủ thể quản lí theo kế hoạch chủ động và phù hợp với quy luật khách quan để gây ảnh hưởng đến đối tượng quản lí nhằm tạo ra sự thay đổi cần thiết vì sự tồn tại (duy trì), ổn định và phát triển của tổ chức trong một môi trường luôn biến động [34]. Quan niệm trên nhấn mạnh những khía cạnh sau của quản lí: 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.