CHƯƠNG I CHO VAY HỘ NGHÈO VÀ VIỆC COI TRỌNG NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI VIỆT NAM 1. Sự cần thiết của việc cho vay hộ nghèo. Vấn đề nghèo đói ở Việt Nam.Chuẩn mực nghèo đói: Nghèo đói là tình trạng 1 bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của các địa phương. Việc xác định chuẩn mực nghèo đói trong từng thời kỳ là một vấn đề có liên quan trực tiếp đến việc hoạch định chính sách xóa đói giảm nghèo của một quốc gia.
Vì vậy, ở từng quốc gia tùy theo hoàn cảnh lịch sử cụ thể và trình độ phát triển mà chuẩn mực nghèo đói có thể thay dổi khác nhau. Hiện nay ở Việt Nam có nhiều chuẩn mực để đánh giá mức nghèo đói, dưới đây là một số chuẩn mực thường được sử dụng. Chuẩn mực nghèo đói ở Việt Nam theo chuẩn mực của Bộ lao động Thương binh và Xã hội. Bộ lao động Thương binh và Xã hội quy định chuẩn mực phân loại hộ nghèo đói áp dụng từ tháng 1 năm 2011 như sau: - Khu vực nông thôn: Mức thu nhập bình quân 400.000đồng/người/tháng.
- Khu vực thành thị: Mức thu nhập bình quân 500.000đồng/người/tháng. Chuẩn mực này được Nhà nước công nhận là chuẩn mực chung cho toàn quốc trong việc hoạch định chương trình quốc gia xóa đói giảm nghèo. Bên cạnh những chuẩn mực tiên tiến, trong thực tế hiện nay còn những chuẩn mực nghèo đói của các tổ chức khác tồn tại như: Chương trình phát triển triển của Liên hiệp quốc (UNDP), các tổ chức phi chính phủ (NGO). Dù mang những tiêu chí khác nhau nhưng mục tiêu chung của việc xây dựng các chuẩn mực này là nhằm đánh giá thực trạng nghèo đói để tìm ra giải pháp nghèo đói.
Nguyên nhân nghèo đói: Nghèo đói là hậu quả đan xen nhiều yếu tố, tình trạng nghèo đói ở nước ta phần lớn tập trung ở nông thôn và rơi vào nhiều hộ, sản xuất mang tính tự cung, tự cấp, thiếu tư liệu sản xuất, thiếu việc làm hoặc làm việc kém hiệu quả, thu Sinh viªn: NguyÔn Ph-¬ng Th¶o - Líp: QT1601T 4 Khãa luËn tèt nghiÖp Tr-êng §HDL H¶i Phßng nhập thấp, không có khả năng tích lũy để tái sản xuất giản đơn. Ngoài ra còn phải chịu thiệt thòi về điều kiện tự nhiên và xã hội. Để đánh giá chính xác: - Thứ nhất: Nhóm nguyên nhân do bản thân người nghèo. - Thứ hai : Nhóm nguyên nhân do môi trường tự nhiên và xã hội.
-Thứ ba : Nhóm nguyên nhân do cơ chế chính sách. * Nhóm nguyên nhân do bản thân người nghèo: - Không có kiến thức và thiếu kinh nghiệm sản xuất, hộ nghèo thường bị giới hạn trong hòa nhập cộng đồng bởi phải sống ở vùng sâu, vùng xa, những nơi hẻo lánh, giao thông đi lại khó khăn, cơ sở hại tầng ở mức thấp kém, thiếu phương tiện thông tin, văn hóa, không được hpjc hành.Lý do này khiến hộ nghèo luôn gắn với phương pháp canh tác cổ truyền, chậm ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, không có cơ hội và điều kiện để nâng cao trình độ dân trí. - Thiếu kiến thức và kinh nghiệm sản xuất là một trong những nguyên nhân cơ bản nhất dẫn đến nghèo đói và tái nghèo đói. Nếu mục tiêu đề ra là hỗ trợ vốn cho hộ nghèo nhằm tạo điều kiện cho hộ nghèo thoát khỏi nghèo đói thì ngược lại việc hỗ trợ cho người nghèo thiếu kiến thức và kinh nghiệm làm ăn dường như chỉa là một giải pháp cứu đói vì nếu không kết hợp với các chương trình khuyến nông, khuyến lâm, chuyển giao kỹ thuật.
thì hộ nghèo lại rơi vào tình trạng tái nghèo. - Thiếu vốn sản xuất: Vốn được coi là cực kỳ quan trọng là tiền đề để giải quyết nghèo đói. Hộ nghèo thiếu vốn thường rơi vào vòng luẩn quẩn, sản xuất kém, làm không đủ phải đi làm thuê, để đảm bảo cuộc sống tối thiểu hàng ngày. Việc đi vay nặng lãi để đảm bảo cuộc sống cũng như để sản xuất, trong khi năng suất lao động lại thấp khi đó vòng luẩn quẩn nghèo đói vẫn hoàn nghèo đói.
Hộ nghèo thiếu vốn sản xuất nhưng không dễ dàng đến được với các kênh tín dụng chính thức vì: Thứ nhất: Nếu như họ là những người thiếu kinh nghiệm và kiến thức làm ănthì không biết vay vốn để làm gì cho có hiệu quả. Thứ hai: Họ lại là những người chưa tiếp cận với tín dụng Ngân hàng thương mại mặc dù các Ngân hàng thương mại đã áp dụng những biện pháp đảm bảo tiền vay rất linh hoạt. Do tính chất thương mại các Ngân hàng này vẫn còn hạn chế cho vay hộ nghèo, chủ yếu tập trung cho vay khách hàng biết làm ăn có hiệu quả. Thứ ba: Nguồn vốn cho vay hộ nghèo nhỏ lại phân tán, dẫn đến hộ nghèo Sinh viªn: NguyÔn Ph-¬ng Th¶o - Líp: QT1601T 5 Khãa luËn tèt nghiÖp Tr-êng §HDL H¶i Phßng tiếp cận với hệ thống tín dụng thường có những hạn chế: - Thiếu ruộng đất: Hộ nông dân Việt Nam được xác định là đơn vị kinh tế tự chủ, được giao ruộng đất để sản xuất.
Hộ nghèo ở một số vùng do quá túng thiếu, nên đã bán đất và trở thành không có sản xuất. - Thiếu sức lao động: Do hiệu quả chiến tranh, rủi ro bất thường nên những người nên những người bị mất sức lao động thường lâm vào cảnh nghèo đói. Mặt khác có những người nghèo vì nghèo ốm đau lòng không được chăm sóc chữa trị kịp thười nên mất sức hoặc giảm sức lao động. - Vi phạm kế hoạch hóa gia đình: Hộ nghèo thường là những hộ có số nhân khẩu cao, nhưng trong độ tuổi lao động thường có 1 đến 2 người, người làm ít, người ăn nhiều, người không có việc làm dẫn đến kết quả thiếu ăn nghèo đói triền miên.
- Bị rủi ro trong cuộc sống: Hộ nghèo, kể cả những hộ có thu nhập trung bình thường không có tích lũy rất ít. Khi ốm đau, hỏa hoạn, tai nạn, thiên tai.cần phải chi số tiền lớn, vay mượn nhiều. Sau khi khỏi bệnh hoặc đã khắc phục được tai nạn, sản xuất kinh doanh không đủ để trả nợ, làm giảm nguồn vốn ít ỏi cùng sức lức và ý chí từ đó trở thành những hộ nghèo đói. - Dân trí thấp: Hộ nghèo đói sống chủ yếu ở vùng sâu, vùng xa điều kiện đi lại, học hành, tiếp xúc hưởng thụ văn hóa hạn chế dẫn đến trình độ hieeur biết thấp.
Việc tính toán kinh tế không biết sản xuất mang tính tự cung, tự cấp. Vì vậy tầm nhìn hạn hẹp không có sự tính toán và định hướng kinh tế lâu dài cho nên chi tiêu không có kế hoạch, lãng phí, lười lao động, mắc vào các tệ nạn xã hội. *Nhóm nguyên nhân do môi trường tự nhiên và xã hội: Điều kiện tự nhiên khắc nghiệt nó tác động tới sản xuất nông nghiệp. Những vùng điều kiện không thuận lợi thiên tai, lũ lụt, hạn hán, dịch bệnh, dẫn đến mất mùa, địa hình phức tạp, giao thông đi lại khó khăn, cơ sở hại tầng thiếu thốn.là những vùng có tỷ lệ nghèo đói cao.
Mặt khác, một số vùng của nước ta do phải gánh chịu hậu quả chiến tranh hết sức nặng nề, mất người, mất của, cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và đời sống bị hủy hoại. Đây là nguyên nhân lớn gây nên nghèo đói và các vấn đề xã hội khác cần phải giải quyết. Phần lớn hộ nghèo là những hộ sống ở nông thôn nên so với thành thị bị lạc hậu, không chỉ biểu hiện ở cơ sở vật chất, tập quán lạc hậu cản trở sự tiếp thu khoa học kỹ thuật vào sản xuất và đời sống, gây tốn kém, lãng phí dễ dẫn đến nghèo đói. Sinh viªn: NguyÔn Ph-¬ng Th¶o - Líp: QT1601T 6 Khãa luËn tèt nghiÖp Tr-êng §HDL H¶i Phßng * Nguyên nhân do cơ chế chính sách: Hiện nay Chính Phủ đã có chính sách ưu tiên phát triển nông thôn đầu tư cơ sở hại tầng nhất là miền núi, khuyến khích sản xuất tạo công ăn việc làm.
Nguồn vốn đến với người nghèo chưa được tập trung, chính sách giáo dục, y tế còn hạn chế. Đặc biệt là thị trường đầu ra nông sản đang là mối lo của người nông dân. Các nhà điều tra xã hội học cho rằng vấn đề không phải vì người nghèo ở nông thôn làm việc ít mà chính họ làm việc rất nhiều nhưng do chưa biết áp dụng khoa học kỹ thuật tiến bộ nên năng suất thấp, lãng phí chi phí, chất lượng sản phẩm không cao nên sản phẩm bán ra chỉ được với giá thấp. Những nguyên nhân trên ít nhiều tác động qua lại lẫn nhau, nếu không có những giải pháp tích cực đối với những vùng nghèo,những hộ nghèo thì tình trạng đói nghèo trong từng vùng sẽ ngày càng trầm trọng hơn.
Sự cần thiết phải hỗ trợ người nghèo: Nguyên nhân nghèo đói trên cho chúng ta thấy nghèo đói xuất phát là do bản thân người nghèo không nhạy bén với nền kinh tế thị trường, không nắm bắt kịp thời sự phát triển kinh tế xã hội, vẫn còn ít người nông dân sử dụng internet như là một kênh truyền thông phổ biến. Bên cạnh đó người nghèo phần lớn sống ở những vùng có điều kiện tự nhiên không thuận lợi, cơ sở hạ tầng thấp kém. Như vậy phân hóa giàu nghèo xuất hiện và tốt tại một cách khách quan trong quá trình phát triển của lịch sử. Việc hỗ trợ người nghèo, vùng nghèo là một chính sách lớn của Đảng và Chính Phủ nhằm đạt các mục tiêu.
- Hỗ trợ người nghèo nhằm mục tiêu phát triển kinh tế: Hộ nghèo là một bộ phận dân cư không nhỏ và phần lớn tập trung ở nông thôn. Nước ta nhân dân sống ở nông thôn chiếm gần 80% dân số. Nếu thu nhập của họ được nâng lên sẽ giảm được gánh nặng cho nền kinh tế, hơn nữa họ sẽ tạo ra một nguồn sản phẩm dồi dào, đồng thời là thị trường tiêu thụ rộng lớn cho ngành công, thương nghiệp. -Hỗ trợ người nghèo, vùng nghèo được hoạch định trong chương trình quốc gia xóa đói giảm nghèo, điều này càng khẳng định rõ định hướng XHCN trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường của Đảng và Chính Phủ trong giai đoạn hiện nay.
-Hỗ trượ người nghèo nhằm giải quyết những vấn đề xã hội: Nghèo đói dễ dẫn đến phát sinh tiêu cực, các tệ nạn xã hội. Hỗ trợ người nghèo giúp họ có được công ăn, việc làm tạo ra nguồn thu nhập, có cơ hội hóa nguồn gốc tiêu cực góp phần thực hiện xây dựng văn minh, bình đẳng xã hội.