Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. Những nét chung về tài nguyên cây ăn quả có múi 1. Nguồn gốc cây ăn quả có múi Nobumasa Nito (2004) [70] đã viết “Nguồn gốc cây có múi được ghi nhận là ở Đông Nam Á bao gồm cả Trung Quốc, Đông Bắc Ấn Độ, trong đó có cả vùng nam Nepal, nơi có những thung lũng và sườn đồi được bảo vệ khỏi những cơn gió lạnh khô và mưa vào mùa hè. Tuy nhiên sự thuần hoá và trồng trọt cây ăn quả có múi lại bắt đầu ở Trung Quốc.
Những ghi chép cổ ở Trung Quốc cho thấy trồng trọt cây ăn quả có múi đã có ở đó hơn 4. Nhiều nhà nghiên cứu trước đó cho rằng cây cam quýt phần lớn có nguồn gốc ở miền Nam châu Á, trải dài từ Ấn Độ qua dãy núi Hymalaya, Trung Quốc xuống vùng quần đảo Philippine, Malaysia, miền Nam Indonesia hoặc kéo đến lục địa Úc. Tuy nhiên, Swingle W.,(1967)[75] còn có nhận định khác là nguồn gốc cây ăn quả có múi phân bố từ Đông Bắc Ấn Độ, trung tâm Trung Quốc, miền Bắc và Trung Úc, qua New Caledonia. Một số tác giả cho rằng nguồn gốc quýt Kinh (citrus nobilis Osbeck) và quất là ở miền Nam Việt Nam, xứ Đông Dương [37].
Tóm lại, tuy ý kiến của các tác giả có khác nhau song về cơ bản đều thống nhất là các loại cây ăn quả có múi trồng trên thế giới hiện nay đều có nguồn gốc từ vùng Đông Nam châu Á, bao gồm cả Nam Trung Quốc, Đông Bắc Ấn Độ và Miến Điện. Nằm trong khu vực này, Việt Nam cũng là nơi phát sinh của một số loài và giống cam, quýt tồn tại cho đến nay. Phân bố và lịch sử phát triển cây ăn quả có múi Với các tên gọi khác nhau như Agrios ở Tây Ban Nha, Agrumen ở Pháp, Agrunum ở Italia, Citrus ở châu Mỹ và những nước nói – viết bằng tiếng Anh, song hầu hết những giống cây ăn quả họ Cam (Rutaceae) đã và đang trồng n 4 trên thế giới đều thuộc chi Citrus và được trồng từ 44030’ vĩ tuyến Bắc – Saureno của Italia đến 350 vĩ tuyến Nam – Zelanda (Adams,et al. Tuy nhiên những vùng trồng cây ăn quả có múi chính tập trung vào 200 – 350 vĩ tuyến Bắc.
Những loại cây ăn quả có múi được trồng ổn định, phổ biến trên thế giới chủ yếu là cam ngọt (C. sinensis), tiếp theo là các giống quýt (C. lemon) và bưởi chùm (C. paradisi) (Chadha et.
Tác giả Gonzalez Sicilia (1968) [60] phân chia các nước trồng cam quýt chính vào 6 vùng: Vùng Địa Trung Hải (Italia, Marôc, Israen, Liban…); vùng trung tâm Bắc Mỹ (Mỹ, Puertoric, Cu Ba…); vùng Đông Nam châu Á (Nhật Bản, Trung Quốc, Philipine…); vùng Nam châu Mỹ (Brasil, Argentina, Paraguay, Uruguay, Peru…); vùng châu Phi (Nam Phi, Angieri…) và vùng châu Úc (Australia, New Zealand…). Quá trình thuần hoá cây ăn quả có múi có thể đã bắt đầu vào cùng một khoảng thời gian một cách độc lập tại vài nơi được gọi là nơi phát sinh. Có rất nhiều minh chứng cho thấy, sự trồng trọt nhóm C.medica ở Ấn Độ, nhóm C.reticulata ở Trung Quốc từ lâu đời, còn sự thuần hoá và trồng trọt cây ăn quả có múi ở Đông Nam Á muộn hơn chút ít. Tiếp theo, sự chinh thám của Alexander The Great, các loài cây ăn quả có múi đã được truyền bá đến Địa Trung Hải, rồi từ đây được đưa vào Tân thế giới.
Tuy nhiên cũng có nhiều giống chủ lực của châu Á cũng không được nhập vào các nước phương Tây và cho tới cuối thế kỷ XX cây ăn quả có múi đã được trồng khắp các nước nhiệt đới và á nhiệt đới. Về lịch sử phát triển của cây quýt (C.reticulata), Gonzales Sicilia (1968) [60] cho biết quýt có nguồn gốc ở Trung Quốc và các quần đảo ở Đông Nam Á. Sau đó được phát triển rộng khắp ở Trung Quốc, Nhật Bản, tiếp theo sang các nước Tân thế giới và sau một thời gian tương đối dài các giống của loài quýt mới được trồng và phát triển rộng ở châu Âu vào năm 1928, bắt đầu trên vườn trang trại của Palermo. Ngày nay các giống quýt khác nhau đã có mặt ở n 5 hầu hết các nước có điều kiện trồng được cây ăn quả có múi.
Phân loại cây ăn quả có múi. Các loại cây ăn quả có múi được trồng phổ biến hiện nay đều thuộc 3 chi: Citrus, Fortunella và Poncirus. Ba chi này có quan hệ gần gũi, có đặc điểm chung về sinh sản và được phân nhóm dưới tông Citreae, tông phụ Citrinae, họ Rutaceac, họ phụ Aurantoideae (Nobumasa Nito, 2004) [70]. Các hệ thống phân loại đầu tiên chủ yếu dựa trên các đặc điểm giải phẫu hoa, đặc điểm hình thái, phân bố địa lý và cả lịch sử phát triển của một số chi quan trọng.
Mặc dù cho đến nay vẫn còn nhiều tranh luận chưa thống nhất, việc phân loại cây ăn quả có múi chủ yếu vẫn dựa vào 2 hệ thống phân loại cơ bản của Swingle (1943) và của Tanaka và cộng sự (1954). Tanaka cho rằng có 144 loài với hàng loạt các giống và dòng thuộc mỗi loài, sau này vào năm 1961 ông đã công bố danh sách với 157 loài. Nhà nghiên cứu cam quýt người Mỹ Hogdson (1961) trên cơ sở phê phán cả 2 hệ thống phân loại, tạo ra một hệ thống phân loại mới bao gồm 16 loài từ hệ thống Swingle và hơn 20 loài từ hệ thống Tanaka. [37] [56] Hệ thống của Swingle và Reece (1967) [75], cho đến nay đã được hầu hết các nhà nghiên cứu thừa nhận.
Theo khoá phân loại của Swingle (1967) có 16 loài, phần lớn các loài cây cam, quýt, chanh, bưởi… thuộc chi Citrus (gồm 2 chi phụ là Eucitrus và Papeda), tộc Citreae, họ phụ Aurantoideae, họ Rutaceae, bộ Geranial. Những nghiên cứu gần đây nhất sử dụng phương pháp phân loại hoá học (chemotaxonomy) kết hợp phân tích đặc điểm hình thái đã đưa ra kết luận, chỉ có 3 nhóm cây ăn quả có múi chính giống nhau về cấu trúc di truyền trong chi Citrus, đó là: - Nhóm C. Như trên đã đề cập nhóm quýt Citrus reticulata tập hợp khá nhiều loài và dạng lai của các vật liệu trong và giữa loài, có một số đặc điểm riêng biệt. Đặc điểm phân biệt rõ nhất của các giống thuần, giống lai thuộc nhóm quýt là rất dễ bóc vỏ, vỏ không có vỏ xốp trắng.
Nhóm quýt được chia thành 5 phân nhóm: - Quýt Địa Trung Hải (C.deliciosa Tan) - Quýt Satsuma (C.unshiu Marc) - Quýt Kinh (C.nobolis Lour) - Quýt Đại trà (C.reticulata Blanco) - Quýt quả nhỏ. Ngày nay có hàng loạt các thể đột biến của quýt Satsuma, một số có nguồn gốc phôi tâm đã được phát hiện ở Nhật Bản và Tây Ban Nha. Giống quýt được trồng rộng rãi nhất thế giới là giống Ponkan, đặc biệt ở Ấn Độ, Trung Quốc, Philippin và Brasil (Nobumasa Nito, 2004) [70]. Theo Võ Văn Chi (1997) [5], ở Việt Nam chi Citrus có 11 loài.
Theo Phạm Văn Hộ (1999) [12] chi Citrus ở Việt Nam có 25 loài cả trồng trọt và hoang dại (có 4 loài có tên quýt), phần lớn là cây thích nghi rộng, được trồng rộng rãi ở cả 3 miền Bắc – Trung – Nam từ vùng núi cao Sa Pa, Đà Lạt tới các vùng thấp đồng bằng Bắc Bộ, bao gồm các tỉnh: Nam Định, Thái Bình, Hải Dương… đến đồng bằng Nam Bộ. Đặc điểm thực vật của cây có múi 1. Đặc điểm thực vật học của cây có múi Theo nhiều tài liệu công bố (Akihama, T and N.,1999 [66], Hoàng Ngọc Thuận, 2002 [35]…) n 7 tương tự như những cây ăn quả nói chung cây ăn quả có múi gồm các bộ phận thực vật cơ bản được mô tả như sau: - Rễ cây ăn quả có múi: Rễ cây có múi thuộc loại rễ cọc như hầu hết các loại cây 2 lá mầm. Trong thời gian nẩy mầm, ban đầu rễ mầm xuất hiện, nhanh chóng sinh trưởng xuống phía dưới, lớn lên và trở thành rễ cái.
Rễ cọc dễ phát hiện ở thời kỳ cây con nhưng khi cây lớn, trưởng thành thì khó phân biệt. Cấu trúc bộ rễ ở cây lâu năm của các loài, giống biến động đáng kể tuỳ thuộc chủ yếu vào loại đất, tầng dầy của đất, chế độ canh tác, tuổi cây…và hình thức nhân giống (gieo hạt, chiết, ghép, giâm). Rễ mới ra thường có màu trắng, rễ già hơn thì có màu hơi nâu vàng. Khi rễ chuyển sang màu nâu đậm sẽ chết đi.
Rễ cây có múi không phân cấp tầng lông hút mà có nấm cộng sinh làm nhiệm vụ thay lông hút. Thường trên các tế bào biểu bì của rễ non, có loại nấm sống sinh dưỡng, là chất đường bột của tế bào rễ, có tác dụng cung cấp dinh dưỡng và kích thích bộ rễ cây phát triển (Davies and Albrigo, 1994) [52]. - Thân, cành cây ăn quả có múi: Cây có múi có dạng cây thân gỗ, cây bụi hoặc cây bán bụi tuỳ loài. Một cây trưởng thành có thể có 4 – 6 cành chính.
Nếu không chú ý tạo tán ngay từ đầu thì cam quýt rất ít khi có thân chính. Do đặc tính phát sinh cành và góc độ phân cành khác nhau của từng giống nên dạng cây của từng giống cũng khác nhau. Tuỳ theo tuổi cây và điều kiện sống, hình thức nhân giống, cây có thể có chiều cao và hình thái khác nhau. Hình thái tán cây rất đa dạng: có loại tán rộng, có loại tán thưa, phân cành hướng ngọn hoặc phân cành ngang; tán hình cầu, hình tròn, hình tháp hoặc hình chổi xể.
Cành có thể có gai hoặc không có gai, cũng có thể có gai khi còn non và rụng gai khi cây lớn và già. Một số giống, loài không có gai nhưng khi nhân giống bằng hạt lại xuất hiện gai trên thân và cành, nhưng ở cấp cành càng cao thì gai càng ít và càng ngắn. Trên cây cam quýt mọc 2 loại cành chủ yếu: cành dinh dưỡng và cành mang quả. Cành dinh dưỡng mang cành hoa quả là cành n 8 mẹ.
Cành mang hoa quả được chia thành các nhóm sau: + Nhóm hoa đơn: Thường chỉ ra 1 hoa ở đầu cành. Cành đơn có nhiều lá và 1 hoa là những cành có khả năng đậu quả cao. Những cây được chăm bón đầy đủ thường có nhiều loại cành này. Cành quả không có lá, thường có nhiều cành quả mọc trên 1 cành mẹ, cuống hoa ngắn do vậy hay lẫn với nhóm hoa chùm.
+ Nhóm hoa chùm: Trên cành, ở mỗi nách lá có 1 hoa và trên ngọn cành có 1 hoa. Thông thường có từ 3 – 7 hoa trên 1 cành. Mỗi cành đậu 1 – 2 quả. Có một số cành hoa không có lá.
Mỗi chùm có 4 – 5 hoa. Loại này có tỷ lệ đậu quả thấp.