Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu ảnh hưởng của gốc ghép tới khả năng sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng của giống cam sành không hạt LĐ6 Cam quýt được xếp vào loại cây ăn quả lâu năm, quá trình sinh trưởng, ra hoa, kết quả chịu ảnh hưởng nhiều của các yếu tố nội tại (di truyền) và các yếu tố ngoại cảnh như nhiệt độ, ánh sáng, đất đai, khí hậu. Để có cây giống tốt, đạt tiêu chuẩn, chất lượng quả đáp ứng được thị hiếu của người tiêu dùng thì cần phải qua bình tuyển, xét chọn những cây đầu dòng và có kỹ thuật nhân giống phù hợp đạt những tiêu chí riêng như: độ thuần, độ đồng đều, dịch hại, gốc ghép, cành ghép, mắt ghép, cành chiết, bộ rễ, thân, lá.
Gốc ghép là yếu tố rất quan trọng trong việc tạo giống. Về mặt di truyền, gốc ghép sao chép đầy đủ đặc tính di truyền của cây mẹ cần nhân giống. Gốc ghép càng khỏe, càng thích ứng với điều kiện sinh thái của địa phương và tiếp hợp tốt với cành hoặc mắt ghép sẽ cho cá thể ghép có tuổi thọ cao và sản lượng cao (Bùi Thanh Hà, 2005) [10]. Cơ sở khoa học của việc sử dụng phân bón lá và chất kích thích sinh trưởng Tùy vào tuổi cây và điều kiện sinh thái, trong chu kỳ sống một năm, cam quýt thường ra 4 đợt lộc (lộc Xuân, Hè, Thu, Đông).
Quá trình ra lộc ở cam quýt liên quan khá nhiều đến hiện tượng ra quả cách năm và khả năng điều chỉnh cân đối giữa bộ phân dưới mặt đất và bộ phận trên mặt đất, quá trình ra lộc năm nay sẽ là tiền đề cho sự ra hoa kết quả năm sau. Nếu có các biện pháp kỹ thuật hợp lý để điều chỉnh quá trình ra lộc sẽ hạn chế hoặc loại bỏ hoàn toàn hiện tượng ra quả cách năm, bồi dưỡng cành mẹ của cành quả năm sau, hạn chế sâu bệnh hại, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng của cam quýt. Từ cơ sở khoa học này, việc nghiên cứu quá trình ra lộc, mối liên hệ giữa các đợt lộc trong năm nhằm có thêm thông tin cơ bản, tiền đề của các biện pháp kỹ thuật là cần thiết. Cây trồng hấp thu dinh dưỡng nuôi cây phần lớn qua bộ rễ, tuy nhiên hàm lượng dinh dưỡng trong đất là không đủ, đặc biệt là các yếu tố vi lượng.
Chính vì 5 thế việc phun phân bón lá nhằm bổ sung dinh dưỡng cho cây là rất cần thiết. Nghiên cứu cải tiến các phương pháp phun bón phân cho cây trồng đã được thực hiện nhiều năm trên nhiều loại cây trồng. Phân bón qua lá cung cấp nhanh, kịp thời các chất dinh dưỡng đa lượng, vi lượng cần thiết cho quá trình sinh trưởng sinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực của cây, đặc biệt là thời kỳ cây sinh trưởng mạnh, cần tập trung dinh dưỡng để tạo hoa, nuôi quả. Cùng với việc sử dụng phân bón lá, sử dụng chất kích thích sinh trưởng là một biện pháp kĩ thuật tối ưu cho sự sinh trưởng và phát triển của cây.
Chất điều tiết sinh trưởng ngày nay đã và đang được sử dụng rộng rãi trong trồng trọt như là một phương tiện điều chỉnh hóa học rất quan trọng đối với nhiều loại đối tượng cây trồng. Các ứng dụng như kích thích nhanh sinh trưởng của cây, sự ra hoa của cây, tăng tỷ lệ đậu quả và tạo quả không hạt,… Quả được hình thành sau khi xảy ra quá trình thụ phấn, thụ tinh sau đó hợp tử phát triển thành phôi. Phôi sinh trưởng là trung tâm sinh ra các chất kích thích sinh trưởng có bản chất auxin và gibberellin. Các chất này khuyếch tán vào bầu và kích thích sự lớn lên của quả.
Vì vậy, nếu không có quá trình thụ phấn, thụ tinh thì hầu hết hoa sẽ rụng. Trong số các hoocmon sinh trưởng thì Gibberellin axít (GA3) có ảnh hưởng lớn, quan trọng đối với các hoạt động sinh lý của cây. Vai trò sinh lý quan trọng của Gibberellin đối với cây trồng nói chung là kích thích sự giãn tế bào theo chiều dọc, giúp kích thích sự sinh trưởng kéo dài của các cơ quan, kích thích sự nảy mầm của hạt và củ, ảnh hưởng đến phân hoá giới tính của các cơ quan sinh sản (ức chế sự phát triển hoa cái, kích thích sự phát triển hoa đực), kích thích sự sinh trưởng của quả. Việc sử dụng phân bón lá, chất kích thích sinh trưởng trên cơ sở chăm sóc tốt đã được khẳng định qua nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước từ đó làm tăng năng suất và chất lượng quả cam Sành.
Cơ sở khoa học của việc áp dụng kỹ thuật bọc quả Bọc quả ngăn không cho sâu bệnh phá hại, nhất là ruồi đục quả. Việc áp dụng kỹ thuật bọc quả trên nhiều loại quả như cam, quýt, bưởi, xoài. đã được các nhà khoa học nghiên cứu và chứng minh kỹ thuật này làm cho mã quả, năng suất cũng như chất lượng tăng lên, giúp nâng cao giá trị sản phẩm sau thu hoạch. 6 Từ những cơ sở trên thấy rằng việc nghiên cứu ảnh hưởng của gốc ghép, phân bón lá, chất kích thích sinh trưởng và bọc quả trên cam Sành tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái là hoàn toàn có cơ sở khoa học và thực tiễn.
Từ đó, sẽ xác định được gốc ghép, loại phân bón lá và bọc quả phù hợp với điều kiện thực tiễn tại địa phương để nâng cao năng suất, chất lượng cam Sành trong những năm tiếp theo. Nguồn gốc cam quýt Hiện nay có nhiều ý kiến của các tác giả khác nhau song về cơ bản đều thống nhất là các loại cây ăn quả có múi trồng trên thế giới hiện nay đều có nguồn gốc từ vùng Đông Nam châu Á, bao gồm cả Nam Trung Quốc, Đông Bắc Ấn Độ và Miến Điện. Nằm trong khu vực này, Việt Nam cũng là nơi phát sinh của một số loài và giống cam, quýt tồn tại cho đến nay. Nobumasa Nito (2004) [34] đã viết “Nguồn gốc cây có múi được ghi nhận là ở Đông Nam Á bao gồm cả Nam Trung Quốc, Đông Bắc Ấn Độ, trong đó có cả vùng nam Nepal, nơi có những thung lũng và sườn đồi được bảo vệ khỏi những cơn gió lạnh khô và mưa vào mùa hè.
Tuy nhiên, sự thuần hoá và trồng trọt cây ăn quả có múi lại bắt đầu ở Trung Quốc”. Theo Trần Thế Tục (1980) [23] nghề trồng cam quýt ở Trung Quốc đã có từ 3. Phân loại cam quýt Các loại cây ăn quả có múi được trồng phổ biến hiện nay đều thuộc 3 chi: Citrus, Fortunella và Poncirus. Ba chi này có quan hệ gần gũi, có đặc điểm chung về sinh sản và được phân nhóm dưới tông Citreae, tông phụ Citrinae, họ Rutaceac, họ phụ Aurantoideae (Nobumasa Nito, 2004) [34].
Các hệ thống phân loại đầu tiên chủ yếu dựa trên các đặc điểm giải phẫu hoa, đặc điểm hình thái, phân bố địa lý và cả lịch sử phát triển của một số chi quan trọng. Tanaka cho rằng có 144 loài với hàng loạt các giống và dòng thuộc mỗi loài, sau này vào năm 1961 ông đã công bố danh sách với 157 loài. Nhà nghiên cứu cam quýt người Mỹ Hogdson (1961) trên cơ sở phê phán cả 2 hệ thống phân loại, tạo ra một hệ thống phân loại mới bao gồm 16 loài từ hệ thống Swingle và hơn 20 loài từ hệ thống Tanaka [35]. Hệ thống của Swingle và Reece (1967) [35], cho đến nay đã được hầu hết các nhà nghiên cứu thừa nhận.
Theo khoá phân loại của Swingle (1967) [35] có 16 loài, 7 phần lớn các loài cây cam, quýt, chanh, bưởi… thuộc chi Citrus (gồm 2 chi phụ là Eucitrus và Papeda), tộc Citreae, họ phụ Aurantoideae, họ Rutaceae, bộ Geranial. Những nghiên cứu gần đây nhất sử dụng phương pháp phân loại hoá học (chemotaxonomy) kết hợp phân tích đặc điểm hình thái đã đưa ra kết luận, chỉ có 3 nhóm cây ăn quả có múi chính giống nhau về cấu trúc di truyền trong chi Citrus, đó là: - Nhóm C. Như trên đã đề cập nhóm quýt Citrus reticulata tập hợp khá nhiều loài và dạng lai của các vật liệu trong và giữa loài, có một số đặc điểm riêng biệt. Đặc điểm phân biệt rõ nhất của các giống thuần, giống lai thuộc nhóm quýt là rất dễ bóc vỏ, vỏ không có vỏ xốp trắng.
Nhóm quýt được chia thành 5 phân nhóm: - Quýt Địa Trung Hải (C.deliciosa Tan) - Quýt Satsuma (C.unshiu Marc) - Quýt Kinh (C.nobolis Lour) - Quýt Đại trà (C.reticulata Blanco) - Quýt quả nhỏ. Ngày nay có hàng loạt các thể đột biến của quýt Satsuma, một số có nguồn gốc phôi tâm đã được phát hiện ở Nhật Bản và Tây Ban Nha. Giống quýt được trồng rộng rãi nhất thế giới là giống Ponkan, đặc biệt ở Ấn Độ, Trung Quốc, Philippin và Brasil (Nobumasa Nito, 2004) [34]. Theo Võ Văn Chi (1997) [4], ở Việt Nam chi Citrus có 11 loài.
Theo Phạm Văn Hộ (1999) [12] chi Citrus ở Việt Nam có 25 loài cả trồng trọt và hoang dại (có 8 4 loài có tên quýt), phần lớn là cây thích nghi rộng, được trồng rộng rãi ở cả 3 miền Bắc - Trung - Nam từ vùng núi cao Sa Pa, Đà Lạt tới các vùng thấp đồng bằng Bắc Bộ, bao gồm các tỉnh: Nam Định, Thái Bình, Hải Dương… đến đồng bằng Nam Bộ. Đặc điểm thực vật của cây ăn quả có múi 1. Đặc điểm thực vật của cây ăn quả có múi Theo Hoàng Ngọc Thuận, 2002 [20] tương tự như những cây ăn quả nói chung cây ăn quả có múi gồm các bộ phận thực vật cơ bản được mô tả như sau: - Rễ cây ăn quả có múi: Rễ cây có múi thuộc loại rễ cọc như hầu hết các loại cây 2 lá mầm. Trong thời gian nẩy mầm, ban đầu rễ mầm xuất hiện, nhanh chóng sinh trưởng xuống phía dưới, lớn lên và trở thành rễ cái.
Rễ cọc dễ phát hiện ở thời kỳ cây con nhưng khi cây lớn, trưởng thành thì khó phân biệt. Cấu trúc bộ rễ ở cây lâu năm của các loài, giống biến động đáng kể tuỳ thuộc chủ yếu vào loại đất, tầng dầy của đất, chế độ canh tác, tuổi cây… và hình thức nhân giống (gieo hạt, chiết, ghép, giâm). Rễ mới ra thường có màu trắng, rễ già hơn thì có màu hơi nâu vàng. Khi rễ chuyển sang màu nâu đậm sẽ chết đi.
Rễ cây có múi không phân cấp tầng lông hút mà có nấm cộng sinh làm nhiệm vụ thay lông hút. Thường trên các tế bào biểu bì của rễ non, có loại nấm sống sinh dưỡng, là chất đường bột của tế bào rễ, có tác dụng cung cấp dinh dưỡng và kích thích bộ rễ cây phát triển.