Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Vấn đề tích cực hóa trong dạy học Hình thành và phát triển tính tích cực là một trong các nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục nhằm đào tạo những con người năng động, thích ứng và góp phần phát triển cộng đồng. Tích cực và tích cực hóa hoạt động nhận thức đã được nhiều nhà nghiên cứu đề cập. Nghiên cứu của Trần Bá Hoành, Ngô Quang Sơn và Bùi Văn Đoàn đã xây dựng cơ sở lý luận của các PPDH nhằm tích cực hóa hoạt động của người học gọi là các PPDH tích cực.
Tính tích cực là điều kiện, đồng thời là kết quả của sự phát triển nhân cách trong quá trình giáo dục [12]. Tác giả Thái Duy Tuyên viết trong cuốn Giáo dục học hiện đại có quan niệm như sau “Tích cực hóa là một tập hợp các hoạt động nhằm chuyển biến các vị trí của người học từ thụ động sang chủ động, từ đối tượng tiếp nhận tri thức sang chủ thể tìm kiếm tri thức để nâng cao hiệu quả học tập” [23]. Trong một nghiên cứu khác, Thái Duy Tuyên cũng xây dựng cơ sở lý luận về bản chất của tính tích cực nhận thức, các mức độ nhận thức và các biểu hiện của tính tích cực hoạt động nhận thức của HS đặt nền móng cho việc đánh giá hiệu quả tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS trong các hoạt động giáo dục [24]. PPDH tích cực là thuật ngữ rút gọn, để chỉ các phương pháp nhằm đề cao vai trò tự giác, tích cực, độc lập nhận thức của người học dưới vai trò tổ chức, định hướng của người dạy.
Như vậy, PPDH tích cực được thực hiện theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, nhằm phát huy tính tự giác, chủ động, sáng tạo của người học. PPDH tích cực (Active Teaching and Learning) hướng tới tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung phát huy tính tích cực của người học chứ không chỉ tập trung hoạt động tích cực của người dạy. Với PPDH tích cực, người dạy đóng vai trò chủ đạo - người học đóng vai trò chủ động chiếm lĩnh tri thức. Tuy nhiên, mọi PPDH nếu biết sử dụng đúng lúc, đúng cách đều có thể phát huy tính tích cực học tập của HS.
Theo Trần Bá Hoành [10], PPDH tích cực là thuật ngữ chỉ các PPDH có thế mạnh trong phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của 6 HS. PPDH tích cực hướng tới việc hoạt động hoá, tích cực hoá HS. Có thể nêu bốn dấu hiệu đặc trưng cơ bản của PPDH tích cực: dạy học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của HS; dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học; tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác; kết hợp đánh giá của GV với tự đánh giá của HS. PPDH tích cực không phải là một PPDH cụ thể mà là một khái niệm, bao gồm nhiều phương pháp, hình thức, biện pháp cụ thể nhằm tích cực hóa, tăng cường sự tham gia của người học vào các hoạt động học tập.
Một số PPDH phát huy tính tích cực có thể kể đến như dạy học hợp tác, dạy học theo góc (trạm), dạy học theo dự án, phương pháp thực hành, phương pháp trực quan, phương pháp đóng vai, phương pháp WebQuest, phương pháp nghiên cứu trường hợp…. Tổng quan tài liệu Trong hệ thống các PPDH có nhiều PPDH phát huy tính tích cực của HS, trong đó phương pháp đóng vai (trò chơi đóng vai) là một trong những phương pháp tích cực với nhiều ưu điểm. Những nghiên cứu ở nước ngoài Năm 2005, Copier và Marinka đã trình bày trong báo cáo tại hội thảo khoa học về trò chơi đóng vai như sau: “Các dạng ban đầu của trò chơi nhập vai gồm trò chơi với bút và giấy, hay trò chơi nhập vai sống với sự diễn xuất của cả cơ thể người chơi. Trong cả hai trường hợp, một quản trò đóng vai trò thiết lập các quy tắc và trọng tài, trong khi mỗi người chơi vào vai một nhân vật” [25].
Năm 2010, Cover và Jennifer Grouling đã xuất bản cuốn “The Creation of Narrative in Tabletop Role-Playing Games”. Trong cuốn sách đó đã nêu “Trò chơi đóng vai” (trong tiếng Anh là role-playing games', viết tắt là RPGs) xuất phát từ trò chơi nhập vai bút và giấy. Người chơi diễn xuất bằng cách tường thuật bằng lời hay văn bản, hoặc bằng cách ra các quyết định theo một cấu trúc đã được định sẵn để phát triển nhân vật hay tình tiết. Các hành động của người chơi có thể tuân theo hoặc không tuân theo một hệ thống các quy định và hướng dẫn [26].
7 Năm 2013, Marco Antonio Ferreira Randi và Hernandes Faustino de Carvalho (Brazil) đã công bố những nghiên cứu từ năm 2008 đến 2010 về “Học qua các trò chơi nhập vai: cách tiếp cận để học hỏi tích cực và giảng dạy” (Learning through role-playing games: an approach for active learning and teaching) [29]. Nghiên cứu này đánh giá việc sử dụng các trò chơi nhập vai (RPG) như một cách tiếp cận phương pháp luận để dạy Sinh học tế bào. Nghiên cứu đã đánh giá được sự hài lòng của HS, kết quả học tập và sự ghi nhớ kiến thức đã học. Các sinh viên Y khoa năm thứ nhất tại hai trường đại học công của Braxin đã tham dự một lớp RPG hoặc một bài giảng về các chủ đề liên quan đến Sinh học tế bào.
Các bảng câu hỏi dựa trên lớp trước và sau RPG được so sánh với điểm trong các kỳ thi thường lệ và trong một bài kiểm tra không báo trước một năm sau để đánh giá thái độ và học tập của HS. Với 230 sinh viên tham dự lớp RPG, sau khóa học có 81% trả lời rằng họ sẽ sử dụng phương pháp này. Các lớp RPG đều có hiệu quả như các bài giảng chính thức, được các sinh viên chấp nhận và có thể phục vụ như là công cụ giáo dục, tạo cho sinh viên cơ hội để học hỏi tích cực và có khả năng giữ được kiến thức có được hiệu quả hơn. Như vậy, có nhiều tác giả trên thế giới đã nghiên cứu và áp dụng phương pháp đóng vai trong dạy học, các nghiên cứu cũng khẳng định khả năng phát huy tính tích cực học tập của người học của phương pháp này.
Đó là những quan điểm làm cơ sở lý luận cho việc sử dụng các biện pháp (thuộc phương pháp đóng vai) trong dạy học nói chung và dạy học Sinh học 10 bằng tiếng Anh nói riêng. Những nghiên cứu ở Việt Nam Năm 2015, Lê Thị Ngọc Hà đã nêu trong Luận văn thạc sỹ giáo dục học (Tiểu học) như sau “Việc vận dụng phương pháp đóng vai trong các phân môn Tiếng Việt thực sự tạo môi trường học tập tích cực, chủ động cho các em HS, đồng thời phát triển khả năng sáng tạo trong các vai diễn” [8]. Năm 2016, Phạm Thị Thu Thủy đã công bố những nghiên cứu từ năm 2013 đến năm 2016 như sau “Trò chơi đóng vai theo chủ đề là dạng trò chơi sáng tạo. Trẻ thực hiện các vai theo chủ đề nhất định và thực hiện chức năng xã hội được mà trẻ đảm nhận” [20].
8 Trong Luận án Tiến sỹ Giáo dục học của Nguyễn Thị Thu Hằng khẳng định “Trò chơi đóng vai theo hình thức cuộc thi sẽ tạo hưng phấn cho HS, kích thích HS thi đua giành kết quả cao, tăng thêm tính tương tác giữa các quan điểm, ý kiến của HS, tạo ra môi trường để HS có thể rèn luyện kỹ năng thương lượng, hợp tác, biết lắng nghe, kiềm chế cảm xúc tiêu cực để nêu quan điểm bản thân một cách tích cực” [9]. Một số luận văn, luận án và các nhà nghiên cứu gần đây cũng đề cập đến việc sử dụng trò chơi đóng vai nhằm phát huy tính tích cực người học ở các góc độ và bộ môn khác nhau. Các tác giả đã nghiên cứu và nêu ra một số biện pháp nhằm phát huy tính tích cực học tập của HS thông qua phương pháp đóng vai và đã đạt được những thành công nhất định. Nhưng vẫn chưa hẳn có một công trình nghiên cứu nào nghiên cứu về xây dựng và sử dụng các biện pháp thuộc phương pháp trò chơi đóng vai trong dạy học Sinh học 10 bằng tiếng Anh.
Đó là cơ sở cho việc lựa chọn và thực hiện đề tài “Xây dựng một số biện pháp dạy học Sinh học 10 THPT bằng tiếng Anh”. Cơ sở lý luận của đề tài 1. Cơ sở lý thuyết của việc xây dựng một số biện pháp dạy học Sinh học 10 bằng tiếng Anh 1. Thuyết nhận thức - học tập là quá trình xử lý thông tin Thuyết nhận thức cho rằng hoạt động học tập của con người được xem như bộ xử lý thông tin [27], bộ nhớ của con người bao gồm ba thành phần: (1) bộ nhớ cảm giác - nhờ đó cảm nhận được những thông tin thu thập bằng các giác quan, (2) bộ nhớ ngắn hạn - trong đó xử lí các thông tin đã được cung cấp bởi bộ nhớ cảm giác và (3) bộ nhớ dài hạn - khu vực ít lưu trữ kiến thức thường trực.
Theo mô hình lý thuyết này, quá trình nhận thức là quá trình có cấu trúc, có ảnh hưởng quyết định đến hành vi. Vậy trong dạy học nhiệm vụ của GV là phải thiết kế các hoạt động học tập hấp dẫn nhằm tối ưu hóa quá trình nhận thức của người học. Cơ sở tâm lý học hoạt động P.Ia Galpêrin là nhà tâm lý học thuộc dòng phái tâm lý học hoạt động. Trên cơ sở lý luận và thực tiễn tâm lý học, P.Ia Galpêrin đã đưa ra lý thuyết hình thành hành động trí tuệ với quan điểm là: “hoạt động tâm lý là kết quả của việc chuyển các hành động vật chất bên ngoài vào lĩnh vực phản ánh- vào lĩnh vực tri giác, biểu tượng và khái niệm.
9 Quá trình di chuyển ấy tiến hành theo một số bước; ở mỗi bước có sự phản ánh mới, một lần tái hiện hành động và sự cải tổ một cách có hệ thống hành động đó” [16]. Dựa trên cơ sở lý thuyết hoạt động, quá trình dạy học sử dụng trò chơi quy tắc cần được chia thành các bước với hai hoạt động chính là phần định hướng và phần thực hiện. Cơ sở tâm sinh lý lứa tuổi [11], [15] - Đặc điểm của hoạt động học tập: HS THPT đã có ý thức học tập nâng cao, động cơ học tập được thể hiện rõ ràng. Hơn nữa ở độ tuổi này khả năng tư duy lý luận, trừu tượng một cách độc lập và sáng tạo đã khá phát triển, có năng lực phân tích, phê phán và nhận định.