mở đầu đã trình bày những luận điểm cơ bản về đô thị, đô thị hóa, đô thị học. Trong vấn đề đô thị hóa, tác giả đã nêu lên một cách toàn diện về ảnh hƣởng đô thị hóa đến cấu trúc lao động, đến vấn đề dịch cƣ nông thôn - đô thị (nghề nghiệp - địa lý), đô thị - đô thị (chuyển đổi địa lý); các ảnh hƣởng về gia đình, môi trƣờng sống, sinh thái đô thị. Quá trình phát triển đô thị đòi hỏi phải có khoa học về đô thị - đô thị học - nghiên cứu các vấn đề lý thuyết, lý luận chung về đô thị; những phƣơng pháp khoa học về quy hoạch đô thị và nhà ở… [83]. - Nguyễn Minh Hòa (2012), Đô thị học: Những vấn đề lý thuyết và thực tiễn, với việc tổng hợp nhiều công trình nghiên cứu xã hội học của mình về đô thị ở các nƣớc trong khu vực nhƣ Bangkok, Manila, Jakarta, Seoul và đặc biệt những nghiên cứu về Tp.
Sài Gòn - Hồ Chí Minh [37]. Trong đó có những nghiên cứu về Đà Lạt 14 đã đề cấp đến những vấn đề lý thuyết và thực tiễn trong nghiên cứu đô thị học. Thông qua các nghiên cứu trƣờng hợp nhất là nghiên cứu về tính đa dạng văn hóa - xã hội của các cộng đồng dân tộc, các nhóm xã hội, các “tiểu văn hóa của các dân tộc nhỏ bé” khi tham gia vào tiến trình đô thị hóa, hội nhập và phát triển đã đƣợc tác giả cảnh báo rằng nó “rất dễ bị nuốt chửng” vì “cho dù hiểu theo nghĩa nào thì văn hóa của họ cũng nằm trong quan hệ bất tƣơng xứng” và việc khuếch trƣơng văn hóa của nhóm nhỏ lại do nhóm lớn “làm dùm”. Từ đó đặt ra vấn đề xây dựng chính sách, thái độ và cách thức ứng xử đối với hiện tƣợng đa văn hóa trong lịch sử cũng nhƣ trong hiện tại.
- Nguyễn Hữu Minh (2005), Biến đổi kinh tế - xã hội ở vùng ven đô Hà Nội trong quá trình đô thị hóa đã chỉ rõ những thay đổi nhanh chóng về hành chính sẽ dẫn đến một bộ phận dân cƣ không thích nghi kịp với đời sống đô thị, hệ quả dẫn đến những sự hụt hẫng nhất định, bên cạnh đó, nghiên cứu còn tập trung vào các biến đổi về chuẩn mực văn hóa cộng đồng, thái độ, hành vi và ứng xử của cƣ dân vùng ven. Đặc biệt tác giả đã nhấn mạnh “Sự thay đổi các chính sách kinh tế vĩ mô, sự xuất hiện của các khu công nghiệp, sự chuyển hóa quyền sử dụng đất,. đã dần biến những vùng quê êm ả thanh bình thành những khu công nghiệp mang dáng dấp của đô thị hiện đại. Những biến đổi đó diễn ra trên tất cả cả các lĩnh vực, từ cơ cấu nghề nghiệp, nguồn thu nhập, mức sống đến nhà ở, cơ sở hạ tầng, từ đời sống vật chất đến tinh thần”.
- Các công trình nghiên cứu của Lê Nhƣ Hoa (2003), Về lối sống đô thị hay bản sắc dân tộc trong lối sống hiện đại đã tập trung vào phân tích lối sống đô thị, các nhân tố kinh tế - văn hóa - xã hội góp phần quan trọng vào quá trình biến đổi cơ cấu xã hội - nghề nghiệp, định hƣớng giá trị,… - Phan Thị Mai Hƣơng (2010), Những biến đổi tâm lý cơ bản của cư dân vùng ven đê trong quá trình đô thị hóa xác định tìm hiểu thực trạng và biến đổi một số mặt trong đời sống tâm lý của cƣ dân vùng ven đô đã đƣợc đô thị hóa trên cơ sở đó đề xuất những chủ trƣơng, chính sách liên quan đến vấn đề dân cƣ vùng đô thị hóa cho Đảng và nhà nƣớc giai đoạn hiện nay. 15 - Nguyễn Thị Thiềng, Patrick Gubry và các tác giả khác (2006), Đô thị Việt Nam trong thời kỳ quá độ. Các tác giả đánh giá đa chiều về đô thị của Việt Nam trong quá trình đô thị hoá nhanh trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội, bằng việc phân tích 3 quá trình diễn ra cùng một lúc trên một lãnh thổ, bao gồm; quá trình quá độ kinh tế - quá độ dân số và quá độ đô thị, các tác giả đã chỉ ra các mâu thuẫn và sự khác biệt của 3 quá trình này so với các nƣớc phát triển khác. Có ba yếu tố tác động đến quá trình đô thị hóa bao gồm: Công nghiệp hóa, chính sách di dân và chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội của vùng và của địa phƣơng.
Nhƣ vậy, vấn đề nghiên cứu đô thị và đô thị hóa đã đƣợc nghiên cứu từ rất lâu bắt đầu từ những nhà xã hội học Mỹ, làm cơ sở định hƣớng cho các nghiên cứu liên quan về sau. Việc vận dụng nó tùy thuộc vào điều kiện hoàn cảnh mỗi quốc gia dân tộc. Nghiên cứu đô thị, đô thị hóa của các nhà khoa học Việt Nam về lý thuyết và thực tiễn cho thấy rất phong phú và toàn diện, qua đó cho phép vận dụng vào vấn đề biến đổi tổ chức xã hội ngƣời Kơho trong quá trình đô thị hóa bao gồm nhƣ: Đô thị hóa với biến đổi xã hội; biến đổi xã hội với công bằng xã hội; đô thị hóa với các định chế xã hội; ảnh hƣởng của các tiến trình đô thị đến gia đình, cộng đồng, lối sống văn hóa xã hội; vai trò của chính sách quốc gia trong chiến lƣợc phát triển đô thị và vùng đô thị nhất là gắn với đẩy nhanh quá trình nâng cao chất lƣợng cuộc sống dân cƣ, xóa đói giảm nghèo, xóa bỏ khoảng cách trong phân tầng xã hội về giàu nghèo giữa các dân tộc. Qua tổng quan các công trình trên đây đã cho thấy việc nghiên cứu phản ánh đầy đủ trên hai bình diện lý luận và thực nghiệm.
Tuy nhiên, những nghiên cứu này còn thiếu vắng trên vùng đất Tây Nguyên nhất là với cộng đồng ngƣời dân tộc thiểu số ở Lâm Đồng. Nghiên cứu về hiện đại hóa Lý thuyết hiện đại hóa ra đời ngay trong thời kỳ đầu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất và đã trở thành trào lƣu nghiên cứu lý luận vào khoảng những năm 50-60 của thế kỷ XX, với sự đóng góp của nhiều đại biểu là các nhà xã hội học, kinh tế học, triết học nhƣ D. Aron, … Lý thuyết hiện đại hóa là những lý luận về mô hình phát triển kinh tế - xã hội và phƣơng thức vận động của các quốc gia, dân tộc trên con đƣờng phát triển, với các nội dung chủ yếu sau: - Các nhà lý luận về hiện đại hóa đã cố gắng xây dựng mô hình phát triển xã hội cho các nƣớc thuộc “thế giới thứ ba” từ kinh nghiệm của các nƣớc Phƣơng Tây, chủ yếu là châu Âu. Mô hình ấy đặc biệt nhấn mạnh đến phát triển kinh tế - kỹ thuật nhƣ là một quy luật phổ biến, coi phát triển tƣ bản chủ nghĩa là con đƣờng tất yếu của tất cả các nƣớc trên thế giới, là tiến trình lịch sử tất yếu mà xã hội loài ngƣời phải đi qua.
- Mô hình lý luận hiện đại hóa ở thời kỳ đầu khi mới ra đời ít chú ý đến các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội ở các nƣớc đang phát triển nhƣ truyền thống văn hóa - lịch sử, những nét đặc thù về tâm lý, ý thức dân tộc - tộc ngƣời,… Hơn nữa, nó ra đời trong bối cảnh xung đột Đông - Tây trên tất cả các phƣơng diện kinh tế, chính trị, tƣ tƣởng nên lý thuyết hiện đại hóa thƣờng bị nhiều học giả xã hội học Mác-xít phê phán là không khả thi khi áp dụng với các nƣớc đang phát triển, nó không phải là mô hình phổ biến, tất yếu lịch sử của nhân loại. Xuất phát từ bối cảnh quốc tế và thực tiễn của xã hội ngày nay là các quá trình biến đổi kinh tế - xã hội gắn liền với sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, toàn cầu hóa,… nên các nhà lý luận hiện đại hóa đã tìm cách khắc phục những hạn chế vốn có trong các quan niệm quyết định luận kinh tế - kỹ thuật để tiếp tục bổ sung và hoàn thiện mô hình hiện đại hóa chẳng hạn nhƣ mô hình hậu hiện đại hóa, mô hình hiện đại hóa “phái sinh” hay còn gọi là “đuổi theo”.Lerner cho rằng những xã hội hiện đại khác các xã hội truyền thống bởi 4 yếu tố 17 cơ bản, đó là: Kinh tế - xã hội qua đô thị hóa; văn hóa qua giáo dục phổ cập, chuyên môn hóa nghề nghiệp; truyền thông qua việc sử dụng phƣơng tiện thông tin đại chúng; chính trị qua sự tham gia phổ thông về nguyên tắc đƣợc tính qua việc tham gia bầu cử [30, tr. Đến lƣợt mình, những tiến trình này có quan hệ với những biến đổi văn hóa - xã hội - chính trị rộng lớn hơn. Ở Việt Nam cũng có nhiều công trình nghiên cứu về hiện đại hóa, với những góc độ tiếp cận khác nhau: - Theo tác giả Trần Hữu Quang (2005), Khái niệm hiện đại hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển biến từ xã hội cổ truyền sang xã hội hiện đại, xét trên các lĩnh vực: Chính trị, văn hóa, kinh tế và xã hội [78].
- Một nghiên cứu khác, tác giả Lƣơng Việt Hải cho rằng: Hiện đại hóa bao gồm toàn bộ các quá trình, các dạng cải biến, các bƣớc quá độ từ các trình độ kinh tế, xã hội khác nhau đang tồn tại lên trình độ mới, cao hơn, dựa trên những thành tựu mới của khoa học kỹ thuật, nhằm phục vụ tốt hơn cho sự phát triển toàn diện của con ngƣời và tiến bộ xã hội [34, tr. Có nhiều công trình nghiên cứu về hiện đại hóa đã quan tâm đến vấn đề phƣơng pháp tiếp cận và nghiên cứu. Chẳng hạn: - Tác giả Trần Hữu Quang (2005), trên cơ sở coi hiện đại hóa là quá trình chuyển biến từ xã hội cổ truyền sang xã hội hiện đại, đã đƣa ra và cụ thể hóa 4 lĩnh vực của hiện đại hóa: Một là, hiện đại hóa về chính trị là phát triển các định chế chủ yếu nhƣ chính đảng, nghị viện, quyền bầu cử, tức là những định chế tạo điều kiện cho ngƣời dân có thể tham gia vào quá trình ra quyết định. Hai là, hiện đại hóa về mặt văn hóa thể hiện qua quá trình thế tục hóa.
Ba là, hiện đại hóa về kinh tế (không đồng nhất với khái niệm công nghiệp hóa) là quá trình diễn ra những thay đổi sâu sắc về kinh tế nhƣ: Gia tăng mức độ phân công lao động, sử dụng kỹ thuật, công nghệ mới, phát triển thƣơng mại - dịch vụ.