Tổng quan luận án

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Cộng đồng cư dân vạn đò trên sông Hương tại thành phố Huế từ lâu đã hình thành một phương thức cư trú đặc thù trên mặt nước, tổ chức thành các vạn từ 30 đến 50 hộ gia đình gắn kết với nhau bằng quan hệ huyết thống, nghề nghiệp và tín ngưỡng. Đặc điểm kinh tế - xã hội chung của nhóm cư dân này trước khi lên bờ là sở hữu ít tư liệu sản xuất, việc làm thiếu ổn định, tỷ lệ sinh cao, phụ thuộc nặng nề vào điều kiện tự nhiên của sông nước, đồng thời gặp nhiều rào cản trong việc tiếp cận các dịch vụ công cơ bản như y tế, giáo dục, thông tin truyền thông.

Sau năm 1975, chính quyền các cấp đã triển khai nhiều chủ trương vận động hồi hương, đưa cư dân đi xây dựng vùng kinh tế mới tại các tỉnh phía Nam (Sông Bé, Đồng Nai, Đắk Lắk, Lâm Đồng) và các huyện miền núi lân cận (A Lưới, Nam Đông, Hương Trà...). Tuy nhiên, do không thích ứng được với tập quán sản xuất nông nghiệp trên cạn, nhiều hộ gia đình đã quay trở lại lòng sông. Giai đoạn từ năm 1986 đến năm 2010, Ủy ban Nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế và Ủy ban Nhân dân thành phố Huế tập trung triển khai các dự án quy hoạch, di dời, giải tỏa và tái định cư toàn bộ cư dân vạn đò sông Hương lên đất liền. Chính sách này phục vụ các mục tiêu an sinh xã hội, giải quyết việc làm cho người nghèo, chỉnh trang cảnh quan đô thị phục vụ bảo tồn Di sản văn hóa thế giới Quần thể di tích Cố đô Huế (được UNESCO công nhận năm 1993) và chủ động ứng phó với thiên tai, bão lũ.

Quá trình chuyển đổi từ phương thức cư trú mặt nước lên các khu tái định cư tập trung đã tạo ra những biến đổi sâu sắc nhưng cũng làm nảy sinh nhiều vấn đề: hiệu quả đào tạo nghề chưa cao, tỷ lệ thất nghiệp của lao động khai thác cát sỏi gia tăng, nợ tiền mua nhà đất, tình trạng sang nhượng căn hộ/đất tái định cư trái quy định, thậm chí có trường hợp quay trở lại thuyền sinh sống. Văn bản luận án chỉ ra rằng, phần lớn các công trình nghiên cứu trước đây chỉ khảo sát đời sống cư dân vạn đò trong giai đoạn còn ở dưới thuyền hoặc tiếp cận tản mạn về y tế, môi trường, quy hoạch đô thị. Cho đến thời điểm tác giả thực hiện nghiên cứu, chưa có một công trình chuyên khảo nào phân tích một cách toàn diện, có hệ thống sự biến đổi kinh tế, xã hội của nhóm cư dân này sau khi lên bờ định cư dưới góc độ chuyên ngành Dân tộc học.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của luận án là tìm hiểu biến đổi kinh tế, xã hội của cư dân vạn đò sông Hương tại các khu tái định cư; đánh giá toàn diện đời sống kinh tế, xã hội của cư dân trong quá trình tái định cư; trên cơ sở đó đề xuất các nhóm giải pháp nhằm phát triển bền vững kinh tế, xã hội cho cộng đồng cư dân trong bối cảnh hiện nay.

Để đạt được mục tiêu nêu trên, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số như sau:

  1. Hệ thống hóa các khái niệm, lý thuyết nghiên cứu liên quan đến đề tài; đánh giá các kết quả nghiên cứu và những vấn đề luận án tiếp tục thực hiện.
  2. Tiến hành điều tra, khảo sát kinh tế, xã hội cư dân vạn đò sông Hương tại 4 khu tái định cư.
  3. Phân tích, so sánh sự biến đổi kinh tế, xã hội của cư dân vạn đò sông Hương trước và sau tái định cư.
  4. Đề xuất các nhóm giải pháp phát triển bền vững kinh tế, xã hội cộng đồng cư dân sống trên sông Hương, ven biển, đầm phá đã tái định cư tại tỉnh Thừa Thiên Huế.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Sự biến đổi kinh tế, xã hội của cư dân vạn đò sông Hương tại 4 khu tái định cư tập trung trên địa bàn thành phố Huế. Nội dung biến đổi kinh tế tập trung vào các loại hình kinh tế, cơ sở hạ tầng, điều kiện cư trú, thu nhập và mức sống của cư dân. Nội dung biến đổi xã hội tập trung vào các tổ chức xã hội truyền thống, quản lý nhà nước, giáo dục, y tế, an ninh trật tự và thực hành tôn giáo, tín ngưỡng. Tác giả luận án xác định khái niệm "kinh tế, xã hội" được sử dụng với hàm nghĩa chỉ gồm hai thành tố độc lập, phân biệt với khái niệm "kinh tế - xã hội" rộng hơn.
  • Phạm vi không gian: Khảo sát tập trung tại 4 khu tái định cư trên địa bàn thành phố Huế, bao gồm: Khu tái định cư Phước Vĩnh (trước đây thuộc Trường An), Khu tái định cư Kim Long, Khu tái định cư Bãi Dâu (phường Phú Hậu) và Khu tái định cư Hương Sơ.
  • Phạm vi thời gian: Tập trung nghiên cứu tiến trình lịch sử và thực trạng biến đổi trong giai đoạn từ năm 1989 đến năm 2020.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước đây

Tác giả luận án phân loại và điểm lại các công trình nghiên cứu đi trước theo các nhóm không gian và nội dung chuyên biệt:

Nghiên cứu quốc tế và khu vực Đông Nam Á về cư dân sông nước:

  • Tại Trung Quốc: Lu Guang (2010) mô tả đời sống trên thuyền của cư dân làng chài sông Liu, tỉnh Giang Tô, chịu tác động tiêu cực từ ô nhiễm nguồn nước công nghiệp và cạn kiệt thủy sản. Ying Yiang Yan (2017) khảo sát trường hợp người Tanka trên sông Châu Giang (Quảng Đông) chuyển đổi từ nhà thuyền lên đất liền gắn với việc duy trì văn hóa và lễ hội truyền thống, kế thừa nghiên cứu của R.R. Worcester (1971) về thuyền tam bản trên sông Dương Tử.
  • Tại Bangladesh: Kathrine E. Starkweather (2017) phân tích chiến lược gia đình, phân công lao động theo giới và vấn đề chăm sóc trẻ em của người Shodagor sống trên mặt nước ở Matlab.
  • Tại Singapore: Yugal Kishore Joshi, Cecilia Tortajada và Asit K. Biswas ghi nhận bài học cải tạo môi trường sông Singapore và lưu vực Kallang gắn liền với tiến trình quy hoạch đô thị.
  • Tại Campuchia: Chong Koh, Ben Mauk, Andrea Frazzetta (2018) và Glenn Althor cùng cộng sự (2018) khảo sát cộng đồng vạn chài trên hồ Tonle Sap, cảnh báo các tổn thương sinh kế trước tác động của đập thủy điện và biến đổi khí hậu.
  • Tại Indonesia: Meidwinna Vania Michiani và Junichiro Asano (2019) nghiên cứu việc nâng cấp cơ sở vật chất cho khu dân cư ven sông Kuin Utara (Banjarmasin), nhấn mạnh vai trò tham gia của cộng đồng trong quản lý tài nguyên.

Nghiên cứu về làng chài và cư dân thủy diện tại Việt Nam:

  • Ven biển: John D. Donoghue (1963, tái bản 1987) nghiên cứu cấu trúc làng xã, dòng họ tại Cẩm An (miền Trung), từng được Gerald C. Hickey trao đổi học thuật về phân tích thân tộc. Lê Hải Đăng (2015), Đoàn Văn Thắng (2018), Nguyễn Thị Thúy Anh và Bùi Thúy Hằng (2019) khảo sát văn hóa, tín ngưỡng, sinh kế của cư dân làng chài Cửa Vạn (Vịnh Hạ Long) trước và sau đợt di dân lên bờ năm 2014. Hoàng Bá Thịnh (2007, 2009) nghiên cứu sức khỏe sinh sản, đời sống tâm linh và quan hệ giới của cư dân đầm phá Thừa Thiên Huế. Lê Duy Đại chủ biên (2013) nghiên cứu diện mạo văn hóa cư dân thủy diện sông Hương và Tam Giang - Cầu Hai. Bùi Xuân Đính và Nguyễn Thị Thanh Bình (2019) nghiên cứu biến đổi xã hội của ngư dân duyên hải miền Trung.
  • Dọc sông và nội đồng: Vũ Thị Hạnh (2014) khảo sát lối sống của người dân làng chài ven sông Lạch Tray và sông Văn Úc (Hải Phòng). Đào Phương Anh (2016) nghiên cứu hôn nhân làng chài Công giáo tại Yên Nhân (Nam Định). Nguyễn Thị Tám (2016) phân tích sinh kế cư dân làng chài sông Lô (Tuyên Quang, Phú Thọ). Lê Anh Tuấn và Trần Thị Kim Dung (2020) nghiên cứu nhân tố ảnh hưởng đến giải quyết việc làm cho làng chài Thiệu Hóa (Thanh Hóa).

Nghiên cứu về cư dân vạn đò sông Hương tại thành phố Huế:

  • Tác giả nước ngoài và xuất bản ngoại văn: Lucien Bansard (1969) ghi nhận cư dân vạn đò Thuận An; Henry Kamm (1971) và Della Denman (1972) phản ánh đời sống sông nước thời chiến trên The New York Times; Nguyễn Phát (1991) khảo sát tình trạng kinh tế, sinh thái; Didier Bertrand (1993, 1996) khảo tả cấu trúc vạn, niềm tin tâm linh, hiện tượng lên đồng và chữa bệnh dân gian; G. Le Néel và L. Chambaud (1994) điều tra nhân khẩu, y tế vạn đò Vỹ Dạ; Nguyễn Khắc Lương Quang cùng nhóm nghiên cứu y tế Nhật Bản (Takehito Takano, Keiko Nakamura, Masafumi Watanabe, Tomoko Inose, Yoshiharu Fukuda, Kaoruko Seino - 2005, 2008) ứng dụng mô hình hồi quy logistic xác định tình trạng bệnh tật, nhiễm khuẩn nguồn nước và phát triển xương ở trẻ em sống trên thuyền; Emile Le Bris và Christian Taillard (1998), Ennebeck D. (2002), Nicolas (2002), Chéron Marie (2004), Tôn Nữ Lưu Phương (2004) tiếp cận từ góc độ không gian đô thị, phân tầng xã hội và xung đột cảnh quan.
  • Tác giả trong nước: Lê Quý Đôn (Phủ biên tạp lục), Phan Hoàng Quý (1975), Văn Đình Triền (1992, 1993), Hoàng Bảo (2003), Nguyễn Duy Thiệu (2002), Lê Thế Hiếu (2006), Lê Hiền (2007), Nguyễn Quang Trung Tiến (2001, 2011), Nguyễn Hữu Thông (1994), Đỗ Minh Khuê (1999), Huỳnh Đình Chiến (2001), Lê Thị Nguyện (2007), Nguyễn Văn Mạnh (2011), Nguyễn Thị Thanh Mai (2012), Nguyễn Xuân Hồng cùng cộng sự (2012), Lê Thị Hương Nga (2013). Cùng với đó là các nghiên cứu của chính tác giả Nguyễn Mạnh Hà (luận văn thạc sĩ năm 1999, đề tài cấp Bộ năm 2010) và nhóm khóa luận tại Trường Đại học Khoa học Huế, Trường Đại học Kinh tế Huế.

Khoảng trống nghiên cứu được lựa chọn

Mặc dù số lượng tài liệu về cư dân vạn đò sông Hương tương đối phong phú, phần lớn các công trình chỉ khai thác lát cắt lịch sử, văn hóa tâm linh hoặc khảo sát y tế trước thời điểm giải tỏa. Các nghiên cứu sau tái định cư thường mang tính báo cáo hành chính, dự án cục bộ hoặc phân tích một khía cạnh riêng lẻ (việc làm, môi trường). Luận án của Nguyễn Mạnh Hà lựa chọn khỏa lấp khoảng trống: Đánh giá toàn diện, đồng bộ cả hai chiều cạnh kinh tế và xã hội của toàn bộ tiến trình tái định cư cư dân vạn đò sông Hương kéo dài hơn ba thập kỷ (1989 - 2020), đối sánh trực tiếp trạng thái trước và sau khi lên bờ tại 4 khu tái định cư đại diện.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và các khái niệm sử dụng

Luận án vận dụng 3 khung lý thuyết nền tảng trong Nhân học và Dân tộc học:

  1. Lý thuyết sinh thái văn hóa (Cultural ecology): Vận dụng để luận giải mối quan hệ tương hỗ giữa môi trường sống (mặt nước sông Hương chuyển sang đất liền) với các phương thức sinh tồn, hành vi sản xuất, tập quán cư trú và cấu trúc xã hội của cộng đồng.
  2. Lý thuyết biến đổi và biến đổi văn hóa (Change and cultural change): Sử dụng nhằm theo dõi động thái dịch chuyển cấu trúc, các biểu hiện đứt gãy, tiếp nối và giao lưu tiếp biến văn hóa giữa cư dân vạn đò với cư dân tại chỗ trên đất liền.
  3. Lý thuyết phát triển và phát triển bền vững (Sustainable development): Định khung việc đánh giá các mục tiêu an sinh, sinh kế, nâng cao chất lượng cuộc sống và bảo vệ môi trường trong quá trình quy hoạch đô thị.

Các khái niệm cơ bản được chuẩn hóa trong văn bản:

  • Cư dân vạn đò: Nhóm dân cư lấy thuyền/đò làm nơi cư trú kết hợp công cụ sản xuất, hành nghề đánh bắt thủy sản, khai thác cát sỏi, vận chuyển tre nứa, dịch vụ thuyền du lịch hoặc làm thuê.
  • Tái định cư: Hiện tượng kinh tế - xã hội gắn với quá trình phát triển (theo Đặng Nguyên Anh); văn bản phân chia thành hai hình thức là tái định cư tự do và tái định cư có kế hoạch.
  • Khu tái định cư: Địa bàn được quy hoạch để bố trí chỗ ở mới cho đối tượng bị giải tỏa, bao gồm các hình thức cấp đất làm nhà, nhà liền kề hoặc căn hộ chung cư.
  • Biến đổi kinh tế: Sự chuyển dịch trong cơ cấu ngành nghề sản xuất, điều kiện cơ sở hạ tầng, tài sản cư trú, thu nhập và chi tiêu.
  • Biến đổi xã hội: Quá trình biến đổi cấu trúc hành vi, thiết chế tự quản, quản lý hành chính, quan hệ gia đình - dòng họ, giáo dục, y tế và niềm tin tín ngưỡng (tham chiếu quan niệm của Nguyễn Khắc Viện, Phạm Tất Dong và Lê Ngọc Hùng).

Phương pháp nghiên cứu thực tế

Tác giả phối hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng thuộc chuyên ngành Dân tộc học và phương pháp liên ngành:

  • Phương pháp điền dã dân tộc học: Quan sát tham dự, ghi chép thực địa, chụp ảnh, quay phim các hoạt động sinh kế, sinh hoạt đời thường và nghi lễ cúng tế tại 4 khu tái định cư; thực hiện phỏng vấn sâu đối với các chủ hộ gia đình, người cao tuổi, thầy cúng, ban quản lý khu chung cư, tổ trưởng tổ dân phố, cán bộ chuyên trách cấp phường và lãnh đạo Ủy ban Nhân dân thành phố Huế.
  • Phương pháp thu thập và xử lý tư liệu thành văn: Khai thác tư liệu lịch sử từ các bộ địa chí, thư tịch cổ triều Nguyễn (Ô châu cận lục, Phủ biên tạp lục, Đại Nam nhất thống chí, Đồng Khánh địa dư chí); thu thập các văn bản quy phạm pháp luật, quyết định quy hoạch, báo cáo kinh tế - xã hội định kỳ của Ủy ban Nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế, Ủy ban Nhân dân thành phố Huế và các phường sở tại.
  • Phương pháp định lượng: Xây dựng phiếu điều tra và thực hiện khảo sát bảng hỏi trực tiếp trên quy mô mẫu gồm 160 hộ gia đình cư dân vạn đò phân bổ đều tại 4 khu tái định cư: Phước Vĩnh, Kim Long, Bãi Dâu và Hương Sơ. Dữ liệu khảo sát được thống kê, tổng hợp nhằm phân tích tương quan thu nhập, cơ cấu nghề, chi tiêu và trình độ học vấn.
  • Phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh - đối chiếu: Đối sánh các chỉ báo kinh tế, xã hội giữa thời kỳ trước năm 1989 (dưới nước) và giai đoạn sau tái định cư đến năm 2020 (trên bờ).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận, phương pháp và địa bàn nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa tình hình nghiên cứu, xác lập khung lý thuyết (sinh thái văn hóa, biến đổi văn hóa, phát triển bền vững), phương pháp điền dã và giới thiệu đặc điểm tự nhiên, xã hội của 4 địa bàn khảo sát.

Tác giả chỉ ra rằng các khu tái định cư đại diện cho các thời kỳ và hình thức cư trú khác nhau: Phước Vĩnh (thành lập năm 1989, bờ Nam, địa hình đồi, hình thức cấp đất làm nhà), Kim Long (thành lập năm 1995, bờ Bắc, ven sông Kẻ Vạn, cấp đất làm nhà), Bãi Dâu - phường Phú Hậu (thành lập năm 1998, bờ Bắc, nhà chung cư) và Hương Sơ (tiếp nhận năm 2009, bố trí đất phân lô và nhà liền kề).

STT Khu tái định cư Năm hình thành Số hộ ban đầu Số hộ năm 2009 Số hộ năm 2019 Số hộ nghèo và cận nghèo năm 2019
1 Phước Vĩnh 1989 148 620 610 10
2 Kim Long 1995 346 647 650 17
3 Bãi Dâu 1998 20 337 359 75
4 Hương Sơ 2009 - 201 513 144
Tổng 514 1.805 2.132 246

Từ khảo sát thực tế giai đoạn 2017 - 2020, tác giả ghi nhận mật độ dân số tại các khu tái định cư tăng nhanh. Tình trạng chuyển nhượng đất và nhà ở diễn ra phức tạp: khoảng 80% hộ gia đình tại Phước Vĩnh đã bán đất/nhà, tình trạng này cũng xuất hiện phổ biến ở Kim Long và có 8 hộ ở chung cư Bãi Dâu đã bán nhà. Tỷ lệ lao động chính thất nghiệp hoặc thiếu việc làm ổn định dao động từ 20% đến 30%.

Chương 2: Chính sách và quá trình thực hiện tái định cư cư dân vạn đò sông Hương

Chương này truy nguyên lịch sử hình thành cộng đồng vạn đò và phân tích tiến trình thực thi chính sách của Nhà nước.

  • Nguồn gốc lịch sử: Tác giả kết hợp thư tịch cổ (Ô châu cận lục năm 1553, Phủ biên tạp lục năm 1776 ghi nhận thuyền bè buôn bán sầm uất trên sông Hương) và hồi cố dân gian, nhận định cộng đồng hình thành từ thế kỷ XVI - XVII trong quá trình mở cõi về phương Nam của người Việt. Cư dân có nguồn gốc từ Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Bình, Quảng Trị và các vùng phụ cận Huế (Phú Lộc, Quảng Điền, Hương Trà...). Thời Tự Đức, vạn đò được quản lý trong cơ cấu tổng Võng Nhi (gồm 16 thôn ấp, giáp, mạn chuyên sống trên mặt nước).
  • Quy mô dân số qua các thời kỳ: Trước năm 1975, cư dân vạn đò chiếm tỷ trọng đáng kể trong cơ cấu dân số thị xã Huế:
Năm Dân số thị xã Huế (người) Dân số các vạn đò (người) Tỷ lệ (%)
1970 170.835 18.232 10,67
1971 191.045 21.050 11,01
1972 177.348 18.730 10,56

Sau năm 1975, chính quyền thành lập khu phố Phú An để quản lý các vạn đò; đến năm 1979 khi khu phố này giải thể, địa bàn còn 335 hộ với khoảng 3.000 nhân khẩu. Đến năm 1992, theo báo cáo của Ủy ban Nhân dân thành phố Huế, số lượng cư dân vạn đò tăng lên:

Loại hình quản lý Số hộ gia đình Số nhân khẩu (người)
Có hộ khẩu 1.300 7.194
Không có hộ khẩu 136 773
Tổng cộng 1.436 7.967
  • Quá trình thực hiện tái định cư: Trải qua nhiều giai đoạn gắn liền các quyết định giải tỏa khu vực Bến Me, công viên Nguyễn Văn Trỗi, sông Ngự Hà, Thượng Thành và sông Trịnh Công Sơn, đưa cư dân lên định cư tại các điểm Phước Vĩnh (1989), Kim Long (1995 qua 4 đợt), Bãi Dâu (1998 qua 2 đợt) và Hương Sơ (tiếp nhận các đợt năm 2009 và 2011).

Chương 3: Biến đổi kinh tế của cư dân vạn đò sông Hương tại các khu tái định cư

Chương 3 phân tích thực trạng chuyển dịch kinh tế từ môi trường sông nước lên cạn:

  • Kinh tế trước tái định cư: Phương tiện cư trú duy nhất là thuyền nhỏ hoặc nhà chồ tạm bợ, diện tích chật hẹp, không có điện lưới và nước sạch, 100% hộ gia đình dùng nước sông trực tiếp cho ăn uống, sinh hoạt và xả thải trực tiếp xuống lòng sông. Các ngành nghề truyền thống bao gồm: đánh bắt cá (dùng lưới cào, lưới rê, giăng câu, đặt lờ, đó); khai thác cát, sỏi (chiếm tỷ lệ lớn ở vạn Vỹ Dạ, Kim Long); vận chuyển tre nứa từ thượng nguồn; chèo thuyền phục vụ ca Huế và khách du lịch; nuôi cá lồng; phụ nữ buôn bán cá nhỏ lẻ tại các chợ ven sông. Thu nhập bấp bênh, phụ thuộc mùa lũ, khả năng tiếp cận tín dụng chính thức gần như không có, chủ yếu vay mượn tư nhân lãi suất cao.
  • Biến đổi kinh tế sau tái định cư:
    • Cơ sở hạ tầng và nhà ở: Cư dân được chuyển sang nhà kiên cố, tiếp cận mạng lưới điện quốc gia, hệ thống cấp nước sạch đô thị, đường giao thông bê tông hóa và dịch vụ thu gom rác thải.
    • Chuyển dịch cơ cấu ngành nghề: Ngư nghiệp đánh bắt tự nhiên suy giảm mạnh do mất bến đậu và ngư cụ không còn phù hợp. Hoạt động khai thác cát sỏi bị siết chặt quản lý để bảo vệ môi trường, chỉ còn một bộ phận nhỏ tại Kim Long duy trì (năm 2008 còn 148 hộ có thuyền). Lao động chuyển dịch ồ ạt sang khu vực phi chính thức trên cạn: đàn ông làm nghề xích lô, xe thồ, thợ nề, thợ xây dựng, bốc vác; phụ nữ làm thuê, bán hàng rong hoặc mở sạp buôn bán nhỏ tại chợ Trường An, chợ Kim Long, chợ đầu mối nông sản Phú Hậu và chợ Hương Sơ.
    • Thu nhập và mức sống: Đời sống vật chất được nâng lên, chi tiêu sinh hoạt tăng do phát sinh chi phí điện, nước, giáo dục và dịch vụ đô thị. Tỷ lệ tiếp cận nguồn vốn ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách xã hội tăng lên, hỗ trợ tạo việc làm và xây dựng nhà ở, tuy nhiên mức độ tích lũy tài chính còn thấp.

Chương 4: Biến đổi xã hội của cư dân vạn đò sông Hương tại các khu tái định cư

Chương 4 khảo sát biến đổi về thiết chế quản lý, quan hệ thân tộc, y tế, giáo dục và đời sống tinh thần:

  • Thiết chế tổ chức: Trước đây, vạn đò vận hành theo cơ chế tự quản do trùm vạn và các bạ vạn điều hành dựa trên tập tục và thỏa ước ngầm. Sau khi lên bờ, thiết chế vạn đò giải thể hoàn toàn; cư dân sáp nhập vào hệ thống quản lý hành chính đô thị chính thức (phường, tổ dân phố, các đoàn thể phụ nữ, cựu chiến binh, đoàn thanh niên). Mạng lưới họ hàng khép kín dần mở rộng, tính liên kết vạn chài lỏng lẻo hơn do cư dân sống xen cư với người dân bản địa.
  • Giáo dục: Trước tái định cư, tỷ lệ mù chữ và tái mù chữ rất cao, trẻ em tham gia lao động kiếm sống từ nhỏ. Sau tái định cư, nhờ hệ thống trường học nằm liền kề (Trường tiểu học Phước Vĩnh, Kim Long, Phú Hậu, Hương Sơ; các trường mầm non và THCS Nguyễn Văn Linh), tỷ lệ trẻ em đến trường ở cấp mầm non và tiểu học đạt gần 100%, kết quả học tập cải thiện qua các năm học 2008 - 2009 và 2018 - 2019, dù tỷ lệ theo học lên THPT, trung cấp, cao đẳng, đại học vẫn còn hạn chế.
  • Y tế và sức khỏe: Chấm dứt tình trạng dùng nước sông ô nhiễm, cải thiện các bệnh ngoài da, thương tích sông nước và bệnh truyền nhiễm đường ruột. Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng và tỷ lệ tử vong trẻ em giảm rõ rệt nhờ hệ thống trạm y tế phường tiêm chủng đầy đủ.
  • Tôn giáo và tín ngưỡng: Giảm bớt các hèm tục và kiêng kỵ ngặt nghèo của nghề sông nước. Việc thờ cúng thần sông, Hà Bá, Bà Thủy, các linh hồn tử nạn sông nước chuyển hóa dần sang thờ cúng gia tiên trong nhà liền thổ. Cư dân tham gia sinh hoạt Phật giáo tại các chùa lân cận (Quốc Ân, Phổ Quang tại Phước Vĩnh; Niệm Phật đường Vạn Phú tại Kim Long; chùa Bãi Dâu...), không có hộ nào theo Thiên chúa giáo dù sống xen cư gần các giáo xứ Phú Cam, Kim Long.
  • An ninh trật tự: Tách khỏi mặt nước, tình trạng trộm cắp trên sông chấm dứt. Tuy nhiên, tại các điểm giáp ranh đô thị, tình trạng thanh niên thất nghiệp tụ tập gây rối, cờ bạc và sa vào tệ nạn ma túy diễn biến phức tạp trong giai đoạn 2018 - 2020.

Chương 5: Một số vấn đề đặt ra trong biến đổi kinh tế, xã hội tại các khu tái định cư của cư dân vạn đò sông Hương

Chương này tổng kết thành tựu, hạn chế, phân tích nguyên nhân và đề xuất nhóm giải pháp:

  • Nguyên nhân biến đổi: Sự can thiệp trực tiếp từ quy hoạch của Nhà nước và chính quyền tỉnh Thừa Thiên Huế; áp lực đô thị hóa và chỉnh trang di sản; sự thay đổi triệt để về hệ sinh thái cư trú; cùng sự năng động tự thích ứng của bản thân cộng đồng.
  • Thành tựu: Giải quyết căn bản nơi ở an toàn, chấm dứt hiểm họa đuối nước và rủi ro sinh mạng trong mùa mưa bão; hạ tầng kỹ thuật được đồng bộ; chất lượng giáo dục, y tế được nâng cao; người dân từng bước hội nhập nếp sống đô thị.
  • Hạn chế: Chuyển đổi nghề nghiệp gặp điểm nghẽn lớn do trình độ học vấn thấp; lao động chủ yếu làm công việc phổ thông, thu nhập bấp bênh; xuất hiện tình trạng bán đất, bán nhà tái định cư; áp lực nợ tiền xây dựng nhà; tệ nạn xã hội trong giới trẻ.
  • Tác động đô thị: Góp phần làm sạch cảnh quan sông Hương, phục hồi môi trường sinh thái phục vụ du lịch di sản, song cũng gia tăng áp lực quản lý hành chính và an sinh xã hội cho thành phố Huế.
  • Hệ thống giải pháp đề xuất: Luận án chia thành 5 nhóm giải pháp:
    1. Quy hoạch, xây dựng hạ tầng và quản lý dân cư: Hoàn thiện cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà đất, quản lý biến động nhân khẩu, ngăn chặn chuyển nhượng trái phép.
    2. Việc làm, đào tạo nghề và tín dụng: Thiết kế các chương trình đào tạo nghề linh hoạt gắn với năng lực thực tế của cư dân vạn đò; hỗ trợ vay vốn ưu đãi để phát triển các ngành dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ du lịch.
    3. Giáo dục và y tế: Duy trì chính sách miễn giảm học phí cho con em hộ nghèo, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe ban đầu, mở rộng bảo hiểm y tế.
    4. Đời sống văn hóa và gắn kết cộng đồng: Xây dựng các thiết chế văn hóa cơ sở, bảo tồn các giá trị phi vật thể tích cực của cư dân vạn đò, tạo điều kiện hòa nhập với cư dân bản địa.
    5. An ninh trật tự và bảo vệ môi trường: Tăng cường tuần tra tại các khu vực giáp ranh, phòng chống tệ nạn ma túy, duy trì nếp sống vệ sinh đô thị.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về lý luận và khoa học

Dưới góc độ chuyên ngành Dân tộc học/Nhân học, luận án làm sáng tỏ diện mạo và các đặc trưng kinh tế, văn hóa, xã hội của một loại hình cư trú đặc thù ở Việt Nam: loại hình thủy cư và bán thủy cư của cư dân vạn đò trên sông Hương. Công trình phân tích có hệ thống quy luật chuyển đổi loại hình cư trú từ thuyền lên bờ, bổ sung cơ sở thực tiễn cho lý thuyết sinh thái văn hóa và lý thuyết biến đổi xã hội trong bối cảnh các cộng đồng yếu thế chịu tác động của quá trình tái định cư và đô thị hóa.

Đóng góp về thực tiễn

Luận án cung cấp bức tranh thực nghiệm toàn diện, số liệu điều tra xác thực về thực trạng đời sống kinh tế, chuyển dịch cơ cấu việc làm, biến đổi thiết chế quản lý và thực hành văn hóa tại 4 khu tái định cư tập trung ở thành phố Huế qua hơn 30 năm (1989 - 2020). Kết quả nghiên cứu là luận cứ thực tiễn trực tiếp giúp chính quyền tỉnh Thừa Thiên Huế và thành phố Huế đánh giá lại các dự án tái định cư; đồng thời đề xuất hệ thống 5 nhóm giải pháp phát triển bền vững có giá trị ứng dụng cho các dự án di dân giải tỏa nhóm cư dân mặt nước vùng đầm phá Tam Giang - Cầu Hai và ven biển miền Trung.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tập trung khảo sát phạm vi không gian tại 4 khu tái định cư tập trung trong ranh giới hành chính thành phố Huế giai đoạn 1989 - 2020; các nhóm cư dân vạn đò từng di dời đi kinh tế mới tại Tây Nguyên hoặc phân tán tại các huyện miền núi lân cận chưa được điều tra thực địa mở rộng. Các dữ liệu về biến đổi kinh tế chủ yếu thu thập qua phương pháp hồi cố và khảo sát chọn mẫu 160 hộ gia đình.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu so sánh biến đổi văn hóa, xã hội của nhóm cư dân vạn đò sông Hương với các cộng đồng ngư dân thủy diện vùng đầm phá Tam Giang - Cầu Hai; theo dõi tiến trình thích ứng và dịch chuyển xã hội của thế hệ thứ hai, thứ ba sinh ra trên đất liền trong bối cảnh thành phố Huế mở rộng địa giới hành chính.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu và đào tạo: Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo cho giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các ngành Dân tộc học, Nhân học, Văn hóa học, Xã hội học, Quản lý văn hóa và Du lịch. Phần tổng quan tài liệu và hệ thống phương pháp điền dã dân tộc học là tư liệu học thuật hữu ích cho các nghiên cứu về nhân học sinh thái và cư dân thủy cư.
  • Đối với cơ quan hoạch định chính sách: Cung cấp tư liệu thực chứng cho cán bộ quản lý đô thị, các cơ quan ban ngành của tỉnh Thừa Thiên Huế, thành phố Huế, Ban Quản lý dự án tái định cư trong việc đánh giá chính sách an sinh xã hội, giải quyết việc làm, thiết kế mô hình đào tạo nghề và tổ chức không gian định cư bền vững cho người nghèo đô thị.

Câu hỏi thường gặp

1. Bốn khu tái định cư tập trung của cư dân vạn đò sông Hương tại thành phố Huế được hình thành vào những thời điểm nào?

Căn cứ Bảng 1.1 trong văn bản luận án, 4 khu tái định cư tập trung được hình thành theo các mốc thời gian: Khu tái định cư Phước Vĩnh hình thành năm 1989 (quy mô ban đầu 148 hộ); Khu tái định cư Kim Long hình thành năm 1995 (quy mô ban đầu 346 hộ); Khu tái định cư Bãi Dâu hình thành năm 1998 (tiếp nhận ban đầu 20 hộ); Khu tái định cư Hương Sơ tiếp nhận cư dân tập trung từ năm 2009.

2. Tác giả luận án sử dụng quy mô mẫu điều tra điền dã thực tế như thế nào?

Để thu thập dữ liệu định lượng và định tính, tác giả đã xây dựng phiếu khảo sát và điều tra trực tiếp 160 hộ gia đình cư dân vạn đò phân bổ tại 4 khu tái định cư (Phước Vĩnh, Kim Long, Bãi Dâu, Hương Sơ). Bên cạnh đó, tác giả tiến hành các cuộc phỏng vấn sâu với chủ hộ, thầy cúng, người cao tuổi trong cộng đồng, lãnh đạo và chuyên viên các phòng, ban của Ủy ban Nhân dân thành phố Huế, Ủy ban Nhân dân các phường và ban quản lý khu tái định cư.

3. Tỷ lệ lao động thất nghiệp và tình trạng sang nhượng nhà đất tại các khu tái định cư được ghi nhận ra sao?

Khảo sát giai đoạn 2017 - 2020 của tác giả cho thấy tỷ lệ lao động chính trong độ tuổi lao động rơi vào tình trạng thất nghiệp hoặc khó tìm kiếm việc làm ổn định chiếm từ 20% đến 30% tại các khu tái định cư. Về nhà đất, tại khu tái định cư Phước Vĩnh có khoảng 80% hộ gia đình đã sang nhượng đất/nhà; tình trạng này cũng diễn ra phổ biến ở Kim Long; riêng khu chung cư Bãi Dâu ghi nhận 8 hộ gia đình đã bán căn hộ.

4. Tỷ lệ cư dân vạn đò so với tổng dân số thị xã Huế giai đoạn 1970 - 1972 là bao nhiêu?

Căn cứ thống kê của Phan Hoàng Quý được luận án dẫn lại tại Bảng 2.1, quy mô cư dân vạn đò luôn chiếm từ 10% đến 11% tổng dân số thị xã Huế thời kỳ này: năm 1970 chiếm 10,67% (18.232 người trên tổng số 170.835 dân); năm 1971 chiếm 11,01% (21.050 người trên 191.045 dân); năm 1972 chiếm 10,56% (18.730 người trên 177.348 dân).

5. Luận án đã áp dụng những khung lý thuyết chủ yếu nào để luận giải biến đổi kinh tế, xã hội?

Văn bản luận án áp dụng 3 khung lý thuyết nền tảng: Lý thuyết sinh thái văn hóa (Cultural ecology) để giải thích sự thích nghi của con người khi thay đổi môi trường từ mặt nước lên cạn; Lý thuyết biến đổi và biến đổi văn hóa (Change and cultural change) để theo dõi sự chuyển biến về cơ cấu nghề nghiệp, thiết chế xã hội và tín ngưỡng; Lý thuyết phát triển và phát triển bền vững (Sustainable development) để đánh giá tính hiệu quả của các chính sách an sinh và quy hoạch đô thị.

Kết luận

Luận án tiến sĩ Dân tộc học của tác giả Nguyễn Mạnh Hà là công trình chuyên khảo nghiên cứu có hệ thống và toàn diện về tiến trình biến đổi kinh tế, xã hội của cư dân vạn đò sông Hương tại 4 khu tái định cư tập trung trên địa bàn thành phố Huế từ năm 1989 đến năm 2020. Dựa trên nguồn tư liệu thành văn kết hợp khảo sát điền dã thực tế trên 160 hộ gia đình, công trình đã phân tích sâu sắc sự chuyển dịch từ lối sống thủy cư sang định cư trên đất liền, chỉ ra những thành tựu về nhà ở, y tế, giáo dục cũng như các rào cản về việc làm, sinh kế và tệ nạn xã hội. Các kết quả nghiên cứu và 5 nhóm giải pháp được đề xuất trong luận án đóng góp cơ sở lý luận cho ngành Dân tộc học về loại hình thủy cư, đồng thời cung cấp luận cứ thực tiễn phục vụ công tác quy hoạch đô thị và an sinh xã hội bền vững tại Thừa Thiên Huế.