Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN, PHƯƠNG PHÁP VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Nghiên cứu biến đổi kinh tế, xã hội cư dân sông nước trên thế giới và ở Việt Nam Nghiên cứu về cư dân vạn đò/làng chài trên thế giới cũng như khu vực Đông Nam Á và Việt Nam dưới góc độ kinh tế, xã hội, y tế, giáo dục và giới được các tác giả trong và ngoài nước đặc biệt quan tâm. Các nghiên cứu trên thế giới và khu vực Đông Nam Á Tại trung Quốc, tác giả Lu Guang (2010) trong bài báo “Câu chuyện làng Chài tỉnh Giang Tô, Trung Quốc: Làm chứng cho chi phí của con người về ô nhiễm nguồn nước” đề cập đời sống của hơn 50 hộ gia đình trên sông tại tỉnh Giang Tô, Trung Quốc: Họ là những cư dân đánh cá, ăn, ngủ trên thuyền.
Cuộc sống cư dân làng chài xấu đi do các nhà máy xuất hiện dọc theo sông Liu, tỉnh Giang Tô. Cuộc sống cư dân bị ảnh hưởng do nguồn thủy hải sản cạn kiệt, dòng sông ô nhiễm bởi các nhà máy công nghiệp xả thải trực tiếp; số lượng cư dân bị ung thư cao hơn nhiều so với trước đây. Bài báo cảnh báo nguy cơ gây ung thư ở bộ phận cư dân này [130]. Tác giả Ying Yiang Yan (2017) trong luận văn Thạc sỹ Khảo cổ học - Nhân học, tại Đại học Southampton về “Technical Choice and Social Practice of Sampan Boats: A Case Study of Tanka Sampan and the Dweller in Ethnoarchaeology” [Lựa chọn kỹ thuật và thực hành xã hội của cư dân vạn đò: Nghiên cứu trường hợp cư dân Tanka từ góc độ dân tộc - khảo cổ học] đã đi sâu nghiên cứu nhóm cư dân đặc thù - người Tanka sống trên sông Châu Giang (Pearl river) - ở khu vực Quảng Đông, Trung Quốc.
Cư dân Tanka đã thay đổi không gian sống trên sông chuyển lên đất liền: Từ thuyền/nhà thuyền chuyển thành nhà trên bờ. Việc định cư/tái định cư gần cửa sông nhằm mục đích quan trọng là phục hồi thuyền và các lễ hội của cư dân. Nghiên cứu đã chỉ ra sự thích ứng sinh kế khi thay đổi môi trường sống là những cơ hội cư dân Tanka tiếp tục sinh kế và duy trì văn hóa khi định cư2 [112]. Tại Bangladesh, tác giả Kathrine E.
Starkweather (2017) trong bài viết “Shodagor Family Strategies Balancing Work and Family on the Water” [Các chiến 2 Tác giả đã dẫn nghiên cứu của R.R Worcester, Du thuyền và thuyền tam bản trên sông Dương Tử (Junks and sampans of the Yangtze, 1971) cho rằng: Vấn đề xây dựng đô thị đã gây ra sự biến mất của rất nhiều thuyền cũng như các vạn đò. Đời sống kinh tế của cư dân chủ yếu là đánh bắt cá và trồng trọt trên đất liền (làm thuê cho các chủ đất để kiếm sống). Nhiều nhà nghiên cứu gọi họ là cư dân lưỡng cư. Nghề nghiệp của họ còn có một bộ phận chuyên vận chuyển hành khách và hàng hóa.
Cùng với thời gian họ từ biển đi dần vào đường thủy nội địa để làm ăn [112, tr. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 lược về gia đình của người Shodagor để đảm bảo cân bằng giữa công việc và gia đình trong điều kiện thủy cư] đề cập đến người Shodagor ở Matlab, Bangladesh. Họ là cộng đồng cư dân sống trên thuyền. Người Shodagor đối mặt các vấn đề như: lao động, sinh sản và chăm sóc trẻ em.
Ở góc độ giới, người phụ nữ làm việc theo chồng, ngoài ra họ còn tham gia các nhiệm vụ khác nhau trong gia đình và ít chăm sóc con cái hơn so với người chồng. Nghiên cứu cho rằng đây là một hành vi bất thường về văn hóa khi phụ nữ ít có điều kiện quan tâm và chăm sóc con của họ so với đàn ông trong cộng đồng [108]. Tại khu vực Đông Nam Á, cũng có nhiều nghiên cứu liên quan. Các tác giả Yugal Kishore Joshi, Cecilia Tortajada và Asit K.
Hoạt động làm sạch sông Singapore và lưu vực Kallang tại Singapore được thực hiện song song với quá trình phát triển đô thị. Kinh nghiệm của Singapore là ví dụ tuyệt vời trong thực hiện các chính sách phát triển đô thị. Đó là tầm nhìn rõ ràng, kế hoạch dài hạn, chiến lược hướng tới tương lai; điều cần thiết đặt nền móng cho sự phát triển bền vững. Trong đó, nâng cao chất lượng cuộc sống, cải thiện môi trường, phát triển đô thị bền vững là mục tiêu quan trọng nhất [132].
Cùng chủ đề nghiên cứu về cư dân sống trên các làng nổi ở khu vực Đông Nam Á mà Camphuchia là điểm nhấn, tác giả Chong Koh, Ben Mauk và nhiếp ảnh gia Andrea Frazzetta (2018) tìm hiểu hàng chục ngàn gia đình hộ gia đình trên sông và hồ Tonle Sáp ở Campuchia trên tờ New York Times: “A People Limbo, Manyliving Entirely on the Water” [Người Limbo, cư dân chủ yếu sống trên mặt nước] và Glenn Althor với các cộng sự (2018) trong bài viết “Large-Scale Environmental Degradation Results in Inequitable Impacts to Already Impoverished Communities: A Case Study from the Floating Villages of Cambodia” [Suy thoái môi trường quy mô lớn dẫn đến tác động bất bình đẳng với những cộng đồng nghèo: Nghiên cứu trường hợp ở các làng thuyền tại Campuchia]. Cả hai bài viết đã nêu lên những rủi ro cư dân thường gặp: bão lũ, bệnh tật, đuối nước ở trẻ em và những khó khăn trong tương lai của cộng đồng cư dân (trong đó có những ngư dân quốc tịch Việt Nam)…Sinh kế chủ yếu của cư dân là đánh cá đã bị tác động do các dự án thủy điện và thay đổi khí hậu. Cư dân “có rất ít năng lực, cơ hội hay phương tiện” để thích nghi với những sự kiện, chính sách thay đổi; thủy sản suy giảm và gia tăng dân số… và thiếu năng lực thích ứng về sinh kế làm cho cư dân dễ bị tổn thương hơn. Đây là những thách thức, khó khăn cho tương lai phát triển bền vững của cộng đồng cư dân này [128; 107].
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Tại Indonesia, tác giả Meidwinna Vania Michiani và Junichiro Asano (2019) trong bài viết “Physical upgrading plan for slum riverside settlement in traditional area: A case study in Kuin Utara, Banjarmasin, Indonesia” [Kế hoạch nâng cấp cơ sở vật chất cho khu định cư ổ chuột ở ven sông trong khu vực cư trú truyền thống: Nghiên cứu trường hợp tại Kuin Utara, Banjarmasin, Indonesia], mặc dù không đề cập nhiều đến cư dân sống trên thuyền, nhưng cộng đồng sống trên sông, dọc sông/dựa vào dòng sông đã thích nghi đời sống vật chất, xã hội. Mẫu số chung cộng đồng cư dân TĐC gặp khó khăn là: sinh kế, tình trạng nhà ở, hệ thống giao thông nội bộ, nguồn cung cấp nước sạch, thiết bị vệ sinh và quản lý chất thải xuống dòng sông. Nghiên cứu này chỉ ra rằng: sự tham gia của người dân và chính quyền địa phương trong quản lý nguồn tài nguyên; nâng cao nhận thức và thái độ về môi trường là điều quan trọng khi thực hiện các dự án đối với các khu ổ chuột ven sông [113]. Những nghiên cứu trên thế giới và khu vực Đông Nam Á về cộng đồng cư dân sống trên thuyền đều gắn liền quá trình phát triển đô thị, công nghiệp hoá và TĐC; bên cạnh đó là những cảnh báo y tế, sinh kế thay đổi và văn hoá của cộng đồng trong bối cảnh thay đổi điều kiện sống, chính sách của chính quyền địa phương.
Các công trình nêu trên đã đánh giá tương đối đầy đủ thực trạng đời sống kinh tế và xã hội của cư dân; trong đó luôn đề cao vai trò của chủ thể văn hoá - cư dân sông nước trong quá trình hội nhập và phát triển. Nghiên cứu vạn đò/làng chài ở Việt Nam Các công trình nghiên cứu vạn đò/làng chài ở Việt Nam từ năm 1985 trở về trước còn rất ít, nội dung tập trung tìm hiểu sinh kế, văn hoá cư dân làng chài ven biển. Có rất ít công trình nghiên cứu về cư dân vạn đò/làng chài sống dọc sông hay nội đồng. + Những công trình tìm hiểu về cư dân làng chài ven biển: Từ những năm 1960 của thế kỷ XX, các nhà nhân học Mỹ đã tiến hành các nghiên cứu về các làng chài ở Việt Nam.Donoghue với công trình “Cam An: A fishing village in central Vietnam” [Cẩm An: Một làng chài ở miền Trung Việt Nam] (1963, tái bản năm 1987) có cách nhìn về đời sống ngư dân Cẩm An bởi các quan hệ tổ chức làng xã - trị an, nghề cá và làng chài, hôn nhân, gia đình, tín ngưỡng, lễ nghi và tương lai của làng chài miền Trung Việt Nam [103].
Khi nhận xét công trình này, Gerald C. Hickey - trường Đại học Wayne (Mỹ) không đồng ý với các phân tích họ hàng và chức năng trong hôn nhân “của các dòng dõi đích thực”, các thuật ngữ chỉ người thân, quan hệ họ hàng, dòng họ mà John D. Donoghue đã trình bày. Mặc dù có những tranh luận nhưng tác giả đã khắc họa những điểm cơ bản trong đời sống ngư dân làng chài ven biển miền Trung.
Trong nghiên cứu cư dân làng chài ở Hạ Long, các tác giả Lê Hải Đăng (2015) “Quan hệ gia đình, dòng họ và hoạt động đi biển của cư dân thuỷ diện ở Quảng Ninh”, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Đoàn Văn Thắng (2018) “Nhận diện cộng đồng ngư dân vạn chài Hạ Long qua vài nét phác thảo”, và Nguyễn Thị Thúy Anh - Bùi Thúy Hằng (2019) “Giải pháp phát triển du lịch ở làng chài Cửa Vạn, Vịnh Hạ Long, Quảng Ninh sau hoạt động di dân lên bờ” đã tìm hiểu lịch sử hình thành và phát triển, đặc điểm cư trú và dân cư, tổ chức chính trị - xã hội truyền thống, thực hành tín ngưỡng, tôn giáo; hoạt động kinh tế truyền thống, ô nhiễm môi trường Cửa Vạn do nhiều nguyên nhân, trong đó có gia tăng dân số, rác thải…Quá trình định cư cư dân (tháng 6/2014) đã tác động/thay đổi thực hành tín ngưỡng, văn hoá truyền thống và sinh kế truyền thống trong quá trình hội nhập, phát triển cộng đồng. Đồng thời, các tác giả đưa ra giải pháp nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hoá, phát triển du lịch ở làng chài Cửa Vạn trên vịnh Hạ Long sau khi định cư trên đất liền là những hướng tiếp cận bảo đảm phát triển bền vững kinh tế - xã hội cộng đồng cư dân [8; 20; 65].