Mở đầu Phần 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Phần 5: Các giải pháp e 5 PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2. Cơ sở lý luận của đề tài 2. Khái niệm nghèo và chuẩn nghèo đa chiều 2. Khái niệm nghèo - nghèo đa chiều Cho đến nay, khái niệm về nghèo chưa hề có sự thay đổi, mặc dù chưa có định nghĩa chính thức, tuy nhiên nhiều quan niệm về nghèo hiện đang được các quốc gia thừa nhận.
Theo Liên hợp quốc (UN): “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội. Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không được đi học, không được đi khám, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng. Nghèo cũng có nghĩa là không an toàn, không có quyền, và bị loại trừ của các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng. Nghèo có nghĩa là dễ bị bạo hành, phải sống ngoài lề xã hội hoặc trong các điều kiện rủi ro, không được tiếp cận nước sạch và công trình vệ sinh an toàn” (Tuyên bố Liên hợp quốc, 6/2008, được lãnh đạo của tất cả các tổ chức UN thông qua).
Tại Hội nghị về chống nghèo đói do Uỷ ban Kinh tế Xã hội Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) tại Bangkok, Thái Lan vào tháng 9 năm 1993, các quốc gia trong khu vực đã thống nhất cao rằng: "Nghèo khổ là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận." Theo Amartya Kumar Sen, nhà Kinh tế học Ấn Độ (đoạt giải Nobel Kinh tế): Để tồn tại, con người cần có những nhu cầu vật chất và tinh thần tối thiểu; Dưới mức tối thiểu này, con người sẽ bị coi là đang sống trong nghèo nàn. Các khái niệm trên cho thấy sự thống nhất cao của các quốc gia, các nhà chính trị và các học giả cho rằng nghèo là một hiện tượng đa chiều, tình trạng e 6 nghèo cần được nhìn nhận là sự thiếu hụt/không được thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người. Vì vậy, nghèo đa chiều có thể được hiểu là tình trạng con người không được đáp ứng một hoặc một số nhu cầu cơ bản trong cuộc sống. Cơ sở pháp lý để chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường nghèo ở nước ta - Trong nội dung Hiến pháp sửa đổi năm 2013, tại Điều 34 quy định “Công dân có quyền được bảo đảm an sinh xã hội”.
- Nghị quyết 15-NQ/TW, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khoá XI, về chính sách xã hội giai đoạn 2012 – 2020: Đưa ra các nhiệm vụ về đảm bảo an sinh xã hội, chú trọng đến việc làm, bảo hiểm xã hội, trợ giúp xã hội những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, đáp ứng các nhu cầu tối thiểu về y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và thông tin. - Để thực hiện mục tiêu giảm nghèo hiệu quả, bền vững hơn, vừa qua, Quốc hội khóa 13, kỳ họp thứ 7 đã thông qua Nghị quyết về đẩy mạnh thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững đến năm 2020, trong đó nêu rõ: Xây dựng chuẩn nghèo mới theo phương pháp tiếp cận đa chiều nhằm bảo đảm mức sống tối thiểu và đáp ứng các dịch vụ xã hội cơ bản. Chính phủ cũng đã chỉ đạo, giao cho Bộ LĐ - TB&XH phối hợp với các Bộ, ngành nghiên cứu xây dựng Đề án tổng thể về đổi mới phương pháp tiếp cận nghèo đói ở Việt Nam từ đơn chiều sang đa chiều, trình Chính phủ xem xét vào cuối năm 2014. Cách thức xác định đo lường nghèo đa chiều Qua bàn bạc giữa Bộ LĐ-TB&XH và Tổng cục Thống kê, các chuyên gia thì các đối tượng nghèo và cận nghèo được xác định với 4 phương án.
Đối với riêng các đối tượng nghèo đa chiều thì trong phương án 1 và 2 thì các tiêu chí và chỉ số, phương pháp đánh giá là giống nhau như sau: - Những hộ có tổng điểm từ 50 điểm trở lên là hộ nghèo đa chiều nghiêm trọng - Những hộ có tổng điểm từ 30 đến dưới 50 điểm là hộ nghèo đa chiều. - Những hộ có tổng điểm từ 20 đến dưới 30 điểm là hộ cận nghèo đa chiều. e 7 Trong phương án 3 thì hộ nghèo và cận nghèo thì phương pháp xác định không tính đến nghèo đa chiều mà chỉ liên quan đến chuẩn mức sống tối thiểu và chuẩn nghèo chính sách (chuẩn nghèo chính sách ở đây sẽ được tính toán theo 2 trường hợp: Trường hợp 1 là 700 nghìn đồng một người một tháng với thành thị và 550 nghìn đồng một người một tháng với nông thôn; Trường hợp 2 là 980 nghìn đồng một người một tháng với thành thị, 820 nghìn đồng một người một tháng với nông thôn). Trong phương án 4 thì coi thu nhập là một chiều và có điểm đánh giá là 50 điểm (chiếm 1/3 tổng số điểm đánh giá), trong đó những hộ gia đình nào có thu nhập bình quân đầu người dưới chuẩn thu nhập sẽ coi là thiếu hụt và được 50 điểm.
Ở phương án này chuẩn thu nhập là 570 nghìn đồng một người một tháng với thành thị và 520 nghìn đồng một người một tháng với nông thôn. Sau đây là cụ thể các phương pháp đánh giá: Phƣơng án 1: Sử dụng chuẩn mức sống tối thiểu để xác định đối tượng chính sách, trên cơ sở đó, phân loại đối tượng hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình bằng mức độ thiếu hụt các nhu cầu xã hội cơ bản, theo phương án này, việc đo lường được thực hiện như sau: Hộ nghèo: Là hộ có thu nhập bình quân đầu người từ mức sống tối thiểu trở xuống (1,3 triệu/người/tháng KVTT và 01 triệu/người/tháng KVNT) và thiếu hụt từ 1/3 nhu cầu xã hội cơ bản trở lên. Hộ cận nghèo: Là hộ có thu nhập bình quân đầu người từ mức sống tối thiểu trở xuống (1,3 triệu/người/tháng KVTT và 01 triệu/người/tháng KVNT) và thiếu hụt dưới 1/3 nhu cầu xã hội cơ bản. Hộ có mức sống trung bình: Là hộ có thu nhập bình quân đầu người dưới mức sống trung bình (cao gấp 1,5 lần mức sống tối thiểu), cao hơn mức sống tối thiểu và thiếu hụt dưới 1/3 nhu cầu xã hội cơ bản.
Phƣơng án 2: Căn cứ vào mức độ thiếu hụt các nhu cầu xã hội cơ bản và mức sống tối thiểu để phân loại đối tượng. e 8 Theo phương án này, các tiêu chí được xác đinh như sau: Hộ nghèo: Là hộ có thu nhập bình quân đầu người từ mức sống tối thiểu trở xuống (1,3 triệu/người/tháng KVTT và 01 triệu/người/tháng KVNT) hoặc thiếu hụt từ 1/3 nhu cầu xã hội cơ bản trở lên. Hộ cận nghèo: Là hộ có thu nhập bình quân đầu người từ mức sống tối thiểu trở xuống (1,3 triệu/người/tháng KVTT và 01 triệu/người/tháng KVNT) hoặc thiếu hụt dưới 1/3 nhu cầu xã hội cơ bản. Phƣơng án 3: Việc đo lường, giám sát mức độ thay đổi khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản do Tổng cục Thống kê thực hiện theo phương án 1, nhưng việc xác định đối tượng hộ nghèo, cận nghèo sẽ dựa trên cơ sở chuẩn mức sống tối thiểu và chuẩn nghèo chính sách (khoảng bằng 60% mức sống tối thiểu), sử dụng mức độ thiếu hụt các nhu cầu xã hội cơ bản để phân tích nguyên nhân nghèo và nhu cầu hỗ trợ.
Theo phương án này, các tiêu chí được xác đinh như sau: Hộ nghèo là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ chuẩn nghèo chính sách trở xuống. Hộ cận nghèo là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ chuẩn mức sống tối thiểu trở xuống và cao hơn chuẩn nghèo chính sách. Hộ có mức sống trung bình là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng dưới mức sống trung bình (cao gấp 1,5 lần mức sống tối thiểu), cao hơn mức sống tối thiểu. Phương án 4: Coi thu nhập là 01 chiều thiếu hụt, gán điểm để tính trọng số với mức độ ưu tiên (khoảng 1/3 tổng số điểm), theo chuẩn tiếp cận đa chiều.
Theo phương án này, các tiêu chí được xác đinh như sau: Hộ nghèo cùng cực là hộ thiếu hụt trên 1/2 nhu cầu xã hội cơ bản. Hộ nghèo là hộ thiếu hụt từ 1/3 đến dưới 1/2 nhu cầu xã hội cơ bản. Hộ cận nghèo là hộ thiếu hụt từ 1/5 đến dưới 1/3 nhu cầu xã hội cơ bản. Trong bài khóa luận này tôi sử dụng 2 phương án đó là phương án 1 và 2 để tiến hành nghiên cứu.
Bảng chỉ số nghèo đa chiều Bảng 2.1: Đo lƣờng chỉ số nghèo đa chiều Chiều Tiêu chí để Cơ sở hình thành chiều Điểm Ngƣỡng thiếu hụt nghèo đo lƣờng nghèo và tiêu chí đo lƣờng số 1. Trình Hộ gia đình có ít nhất Hiến pháp năm 2013 10 1) độ giáo dục 1 thành viên trong độ NQ 15/NQ-TW Một số vấn Giáo của người tuổi lao động chưa đề chính sách xã hội giai dục lớn tốt nghiệp Trung học đoạn 2012-2020. cơ sở và hiện không Nghị quyết số 41/2000/QH đi học (bổ sung bởi Nghị định số 88/2001/NĐ-CP) 1. Tình Hộ gia đình có ít nhất Hiến pháp năm 2013 10 trạng đi học 1 trẻ em trong độ tuổi Luật Giáo dục 2005 của trẻ em đi học (5- dưới 16 Luật bảo vệ, chăm sóc và tuổi) hiện không đi giáo dục trẻ em học NQ 15/NQ-TW Một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020.
Tiếp Hộ gia đình có người Hiến pháp năm 2013 10 cận các dịch bị ốm đau nhưng Luật Khám chữa bệnh vụ y tế không đi khám chữa bệnh(ốm đau được xác định là bị bệnh/chấn thương nặng đến mức phải nằm một chỗ và phải có người chăm sóc tại giường hoặc nghỉ việc/học không tham e 10 Chiều Tiêu chí để Cơ sở hình thành chiều Điểm Ngƣỡng thiếu hụt nghèo đo lƣờng nghèo và tiêu chí đo lƣờng số gia được các hoạt động bình thường) 2. Bảo Hộ gia đình có ít nhất Hiến pháp năm 2013 10 hiểm y tế 1 thành viên từ 6 tuổi Luật bảo hiểm y tế 2014 trở lên hiện tại không NQ 15/NQ-TW Một số vấn có bảo hiểm y tế đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020. Chất Hộ gia đình đang ở Luật Nhà ở; 10 Nhà ở lượng nhà ở trong nhà thiếu kiên NQ 15/NQ-TW Một số vấn cố hoặc nhà đơn sơ đề chính sách xã hội giai (Nhà ở chia thành 4 đoạn 2012-2020.