CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. TÌNH HÌNH MẮC BỆNH TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC Hemophilia là bệnh rối loạn đông máu di truyền hay gặp nhất. Theo thống kê của tổ chức Hemophilia thế giới, hiện nay có khoảng 250.000 bệnh nhân mắc bệnh hemophilia và chỉ có khoảng 50.000 được điều trị đặc hiệu. Tại Việt Nam, theo những thống không đầy đủ hiện tại nước ta có khoảng 5000 bệnh nhân hemophilia.
Theo số liệu điều tra từ năm 1994-1996 về tình hình bệnh Hemophilia ở Miền Bắc Việt Nam cho thấy tỷ lệ bệnh hemophilia là 25-60/1. Tỷ lệ mắc bệnh Hemophilia gần giống nhau ở các vùng, các nước, các chủng tộc [29. Bệnh Hemophilia A hay gặp nhất, chiếm tới 85%, Hemophilia B chỉ chiếm 14% [21. Tại Viện Huyết học truyền máu Trung ương, cùng với sự ra đời của trung tâm điều trị Hemophilia, số bệnh nhân đến khám và điều trị tăng lên đáng kể.
Đến nay trung tâm đã quản ý khoảng 500 bệnh nhân Hemophilia ở các địa phương khác nhau, trong đó Hemophilia A chiếm 85%, 13,16% là Hemophilia B và còn lại là các bệnh nhân bị các bệnh rối loạn đông máu khác [44. Các bệnh nhân đến trung tâm Hemophilia được hỏi bệnh, thăm khám lâm sàng và xét nghiệm chuyên khoa để chẩn đoán xác định, lập hồ sơ theo dõi và quản lý. Sau đó bệnh nhân được điều trị bằng chế phẩm máu (Cryo, huyết tương tươi đông lạnh. Yếu tố VIII tủa lạnh cho bệnh Hemophilia A và huyết tương tươi đông lạnh cho bệnh hemophilia B được sản xuất từ huyết tương tươi của người khoẻ mạnh cho máu tại Viện Huyết học và Truyền máu Trung ương.
Tuy nhiên do tình trạng lây lan của các bệnh nhiễm trung theo đường máu, đặc biệt là HIV/AIDS và virut viêm gan, đòi hỏi phải có quá trình sàng lọc cẩn thận đảm bảo an toàn truyền máu. Do vậy, đây cũng là lý do làm tăng giá các chế phẩm từ máu, gây khó khăn cho bệnh nhân và công tác điều trị. Hạn chế số bệnh nhân đến viện để điều trị thường xuyên. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU BỆNH HEMOPHILIA A Từ thời kỳ cổ đại loài người đã biết đến bệnh máu khó đông, tuy nhiên không có tên gọi chính thức cho nó.
Trong các văn tự cổ của người Do thái từ thế kỷ thứ II trước công nguyên đã miêu tả những đứa trẻ chết do chảy máu không cầm sau khi cắt bao quy đầu. Bác sỹ người Ả rập- Albucasis cũng miêu tả những đứa trẻ bị chết do chảy máu vì những vết thương nhỏ. Bệnh máu khó đông được nhận thấy là có tính di truyền hàng trăm năm qua các thế hệ trong một gia đình.Vào những năm 1880 người ta đã phát hiện bệnh máu khó đông di truyền liên kết với giới tính, vào thời điểm này các nhà khoa học nhận thấy chỉ có nam giới mắc bệnh và không có khả năng truyền bệnh cho con trai, con gái bệnh nhân mang gen bệnh và truyền cho con trai mình.1: Phả hệ di truyền bệnh Hemophilia A của Hoàng gia Bệnh Hemoliphia còn được biết đến như căn bệnh của Hoàng Gia vì nữ hoàng Anh Victoria 1838-1901 mang gen bệnh này và truyền nó cho nhiều Hoàng Gia khác (hình 1. 6 * Hành trình đi tìm nguyên nhân và những tiến bộ trong điều trị bệnh: Trong thế kỷ XX, các bác sỹ đã tập trung tìm ra nguyên nhân gây bệnh.
Trước đó họ đã cho rằng mạch máu của người máu khó đông dễ vỡ hơn người bình thường. Năm 1925 tìm ra nguyên nhân gây bệnh Von Willebrand (cũng là một bệnh máu chảy kéo dài). Năm 1930 phát hiện ra vai trò của tiểu cầu trong việc làm đông máu. Năm 1937 Patex và Taylor là 2 bác sỹ của Trường Đại học Harvard đã tìm ra một chất có trong plasma đóng vai trò đông máu gọi là Anti- Hemophilic globulin.
Trước những năm 1960, bệnh Hemophilia và một số bệnh máu khác được chữa bằng cách truyền bổ xung máu 100% hoặc bằng plasma tươi. Tuy nhiên yếu tố VIII có rất ít trong đó nên không làm cầm máu ở những người thể nặng và kết quả họ vẫn bị tử vong. Trong thập niên 1960 xác định được các yếu tố làm đông máu. Năm 1964, một báo cáo khoa học đã miêu tả rõ ràng các yếu tố làm đông máu cũng như vai trò của chúng trong quá trình đông máu.
Cũng trong năm này, Pool và cộng sự đã mô tả một phương pháp đơn giản tập trung yếu tố VIII dưới dạng tủa lạnh. Dạng điều chế này được sử dụng rộng rãi cho bệnh nhân Hemophilia, tạo khả năng phẫu thuật và điều trị chảy máu cho bệnh nhân ngoại trú. Đến cuối thập niên 1960, yếu tố VIII cô đặc và tinh khiết đã được tạo ra. Gần đây sản phẩm điều trị tinh khiết cao sản xuất từ huyết tương người bằng kỹ thuật sắc ký ái lực miễn dịch được sử dụng nhiều và yếu tố tái tổ hợp lần đầu tiên được ghi nhận bởi White và cộng sự năm 1988 [9.
Các chế phẩm này hạn chế được nhiều nguy cơ nhiễm các bệnh truyền qua đường máu, nồng độ yếu tố VIII cao, dễ bảo quản và sử dụng, tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh nhân tự điều trị tại nhà. * Diễn biến lịch sử về những tiến bộ trong điều trị bệnh nhân Hemophilia A bằng yếu tố tái tổ hợp [12.] 7 Năm 1984: clone thành công yếu tố VIII. Năm 1992: sản xuất ra chế phẩm yếu tố VIII tái tổ hợp. Năm 1995-1996: chuyển yếu tố VIII adenovirus hệ thống sang chó và chuột.
Năm 1998-2001: bắt đầu thử nghiệm lâm sàng ở người về điều trị bệnh Hemophilia bằng liệu pháp gen. Năm 2003: sản xuất yếu tố VIII tái tổ hợp với các đặc tính được phát triển. SINH LÝ HỌC Hệ thống yếu tố VIII ở người bình thường, trong huyết tương có ba hoạt tính khác nhau: - Chỉnh lý thời gian đông của huyết tương do yếu tố VIII đông máu quyết định (Factor VIII congulation- FVIIIc). - Bị tủa bởi một kháng thể dị loài gọi là kháng nguyên liên quan đến yếu tố VIII( Factor VIII Related Antigen: FVIII-R.
- Điều chỉnh được tình trạng chảy máu trong bệnh Willebrand (Factor VIII Related Willebrand: FVIII-RW). BỆNH HEMOPHILIA A Bệnh Hemophilia A là bệnh rối loạn đông máu di truyền do khiếm khuyết gen tổng hợp yếu tố VIII dẫn đến giảm nồng độ hoạt tính yếu tố VIII trong máu. Đại cương về đông máu Đông máu là một quá trình chuyển từ thể lỏng thành thể đặc, do sự chuyển fibrinogen thành fibrin không hòa tan. Các sợi fibrin sẽ trùng hợp với nhau tạo ra mạng lưới fibrin giam giữ các thành phần của máu và máu sẽ đông lại.
Cục máu đông hình thành sẽ có tác dụng bịt kín chỗ tổn thương. Bình thường trong máu và trong mô có chất gây đông và chất chống đông, những chất gây đông ở dạng tiền chất không hoạt động nên máu không 8 đông được. Khi mạch máu bị tổn thương sẽ hoạt hóa các yếu tố đông máu làm cho máu đông lại. Các yếu tố đông máu Hội nghị quốc tế năm 1959 về đông máu, đã quy định tên gọi của các yếu tố đông máu bằng các chữ số La mã.
Có 12 yếu tố đông máu: - Yếu tố I : Fibrinogen. - Yếu tố II : Prothrombin. - Yếu tố III : Prothrombin của mô hoặc các yếu tố mô. - Yếu tố IV : Ion canxi.
- Yếu tố V : Proaccelerin: yếu tố không ổn định. - Yếu tố VII : Proconvectin: yếu tố ổn định. - Yếu tố VIII : Yếu tố chống Hemophilia A. - Yếu tố IX : Yếu tố chống Hemophilia B; yếu tố Christmas.
- Yếu tố X : Yếu tố Stuart. - Yếu tố XI : Yếu tố tiền thromboplastin huyết tương. Yếu tố chống Hemophilia C. - Yếu tố XII : Yếu tố Hageman- yếu tố chống Hemophilia D.
Yếu tố ổn định fibrin. Gần đây, đã phát hiện hai protein của huyết tương mới được xếp vào các nhóm yếu tố đông máu huyết tương [6. - Kininogen trọng lượng phân tử cao. Quá trình đông máu của huyết tương là sự kết hợp giữa hai con đường đông máu nội sinh và đông máu ngoại sinh.
Các hoạt động kế tiếp nhau của các enzym trong chuỗi các phản ứng nối tiếp dẫn tới hình thành thrombin và chuyển fibrinogen thành fibrin. Trong đó yếu tố VIII tham gia như một đồng yếu tố.2: Sơ đồ đông máu theo con đường nội và ngoại sinh. Quy luật di truyền Hemophilia là bệnh di truyền lặn liên kết với giới tính X không có alen tương ứng trên NST Y.3: Kiểu gen và kiểu hình của bố mẹ và thế hệ con Cơ chế di truyền của bệnh: - Gen đột biến có sẵn trên nhiễm sắc thể X của mẹ truyền bệnh cho con trai, hoặc truyền gen bệnh cho con gái ở trạng thái dị hợp tử, những người con gái dị hợp tử này khi xây dựng gia đình sinh con lại có thể truyền bệnh cho con trai và các con gái của mình ở trạng thái dị hợp tử. - Do đột biến mới phát sinh trong quá trình tạo giao tử ở bố hoặc mẹ: thường chiếm khoảng 1/3 trong các trường hợp Hemophilia.
Tỉ lệ đột biến gây bệnh Hemophilia xẩy ra là 3 x 106 trên gen và trên một giao tử trong một thế hệ [7. Chẩn đoán xác định - Tiền sử gia đình có người mắc bệnh. - Triệu chứng lâm sàng: thể hiện khác nhau giữa các bệnh nhân, nhưng triệu chứng chảy máu là chủ yếu. Hội chứng chảy máu ít khi xảy ra vào lúc mới đẻ, thường xuất hiện khi trẻ tập đi, lúc đó trẻ xuất hiện các nốt hoặc các điểm tụ máu.
Trong các thể xuất huyết nhẹ, xuất huyết xảy ra khi răng sữa rụng hoặc nhổ răng. Bệnh càng nặng thì triệu chứng xuất huyết xuất hiện càng sớm. Các đặc điểm xuất huyết hay gặp ở bệnh nhân Hemophilia là: xuất hiện ngay sau một chấn thương dù rất nhẹ, hoặc nhổ răng hay sau một cuộc phẫu thuật và ít có khả năng tự cầm máu, thường hay tái phát ở những nơi nhất định như: + Các khớp: triệu chứng hay gặp nhất là chảy máu khớp, có thể dẫn đến viêm khớp. + Các vết thương ngoài da.
11 + Chảy máu ở các hố tự nhiên: chảy máu cam, chảy máu lợi. - Xét nghiệm cận lâm sàng: + Thời gian máu chảy kéo dài, thời gian đông máu kéo dài có thể hơn 1 giờ; chất lượng cục máu đông kém; thời gian Howel kéo dài… + Định lượng yếu tố VIII giảm hoặc không có. + Xét nghiệm DNA phát hiện đột biến gen. + Yếu tố von- Willebrand bình thường.
+ Số lượng tiểu cầu bình thường. Phân loại thể bệnh Hemophilia theo mức độ yếu tố VIII Bình thường yếu tố VIII ở người 200 ng/ml. Trường hợp bị bệnh, lượng yếu tố VIII giảm dưới 30%. Hemophilia được chia làm ba thể: nặng, trung bình và nhẹ.