CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẤT CÂN XỨNG THÔNG TIN VÀ BẤT CÂN XỨNG THÔNG TIN TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN CĂN HỘ CHUNG CƯ 1.1 Lý thuyết về Bất cân xứng thông tin22 Ý tưởng về BCXTT được giới thiệu lần đầu bởi một nhà kinh tế học người Mỹ, George A. Akerlof vào năm 1970 trong một ấn phẩm nhan đề “Thị trường của những “quả chanh”: Thị trường bất ổn và Cơ chế của thị trường”23. Với một ví dụ về tình huống mua bán xe hơi trên thị trường, Ông đưa luận thuyết về BCXTT với nội dung tóm lược là: Trong một giao dịch trên thị trường người bán hàng sẽ biết rõ đặc tính của sản phẩm mình muốn bán hơn và thường rao bán với mức giá cao, trong khi đó bên mua tiềm năng vì không rành về đặc tính của món hàng bằng người bán nên có xu hướng mua hàng (bất kể tốt hay xấu) tại mức giá trung bình trên thị trường. Trên thực tế một món hàng tốt luôn có mức giá cao hơn mức giá trung bình và vì thế chỉ có những sản phẩm kém chất lượng được giao dịch tại mức giá trung bình đó.
Và kết quả là bên mua thường là mua được những sản phẩm xấu. Quá trình lựa chọn sản phẩm để mua như vậy trên thị trường được gọi là trình trạng lựa chọn bất lợi (adverse selection) vì bên mua có thể trả giá cao hơn đối với một sản phẩm kém chất lượng trong khi người bán lại không thể bán được sản phẩm chất lượng cao với giá bán thấp. Với tiên lượng như vậy, thị trường có thể sẽ bị sụp đổ. Đáng lưu ý là Akerlof cũng cho rằng có thể giảm thiểu tình trạng BCXTT trên thị trường giữa các Bên thông qua các định chế thị trường trung gian được gọi là “counteracting institutions”.
Thông qua các định chế này, thông tin sản phẩm đến với người mua như các chi tiết về bảo hành, nhãn mác, thông số kỹ thuật sẽ được cung cấp đầy đủ… chính điều này đã làm cho các bên giao dịch cân bằng hơn về 22 Lauri Auronen (2003), Asymmetric Information: Theory and Application, Helsinki University of Technology – Department of Industrial Engineering and Management, May 21 st 2003. Akerlof (1970), The market for "lemons": Quality uncertainty and the market mechanism, The Quarterly Journal of Economics, 1970. 10 thông tin và do đó, giao dịch sẽ dễ dàng được thực hiện tránh được hậu quả sụp đổ thị trường (“keep the market from reducing to the size of zero”). Nguyên Hiệu trưởng trường kinh doanh Stanford lừng danh, Michael Spence tiếp tục phát triển ý tưởng của Akerlof trong ấn phẩm “Tín hiệu của thị trường việc làm”24 vào năm 1973.
Thay vì thị trường xe hơi, Spence lấy ví dụ trên thị trường việc làm để minh họa cho quan điểm của mình. Theo Spence, trong việc thuê lao động thường thì giới chủ (tức bên mua) không thể biết hết được khả năng đóng góp, năng suất làm việc của người lao động (tức bên bán) là bao nhiêu. Vì thế các ông chủ có thể kiểm tra các thông tin về bằng cấp, kinh nghiệm, … của người lao động, như là các tín hiệu về năng lực, để lựa chọn được lao động có chất lượng. Ngược lại, giới thợ thuyền có thể kiểm tra các tín hiệu tín nhiệm từ giới chủ thông qua mức lương được mời chào.
Tình trạng phát tín hiệu cân bằng (signaling equilibrium) như vậy theo ví dụ, có tác dụng giảm thiểu thông tin bất cân xứng giữa những những người làm thuê và các ông chủ và do đó giữ cho thị trường luôn ở trong trạng thái hoạt động. Hai năm sau đó, Joseph Stiglitz, người từng giữ chức vụ Phó chủ tịch Ngân hàng Thế giới tiếp tục bổ khuyết cho lý thuyết về BCXTT mà Akerlof và Spence đã đặt nền móng trước đó bằng bài viết “Lý thuyết về “sàng lọc”, giáo dục, và sự phân phối lợi tức”25 trong năm 1975. Quan điểm của Stiglitz là bất kỳ sản phẩm nào cũng có những đặc tính riêng biệt chẳng hạn như về chất lượng, mẫu mã, xuất xứ. và cũng tương tự như vậy với từng nhóm lao động khác nhau đều có các kỹ năng, tay nghề, chuyên môn, kiến thức khác nhau.
Vì vậy cơ chế trả lương cũng phải được điều chỉnh để khuyến khích người lao động có tay nghề, nâng cao hiệu quả công việc. Cơ chế đánh giá, phân loại hàng hóa, nhân lực như vậy được gọi là các phương tiện sàng lọc (screening devices). 24 Michael Spence (1973), Job market signaling, The Quarterly Journal of Economics, 1973. Stiglitz (1975), The theory of ’screening,’ education, and the distribution of income, The American Economic Review, 1975 11 Lý thuyết này của Stiglitz tiếp tục được phát triển bởi chính ông và một tác giả khác là Michael Rothschild với một ấn phẩm vào năm 1976 nhan đề “Sự cân bằng trong Thị trường Bảo hiểm cạnh tranh: Một tiểu luận kinh tế học về thông tin không hoàn hảo”26 mà theo đó các tác giả đã chỉ ra rằng một bên có ít thông tin hơn có thể thu thập thông tin thông qua việc chào mời các điều kiện giao dịch khác nhau.
Ví dụ như các công ty bảo hiểm trên thị trường thường cung cấp các gói bảo hiểm với các mức phí và điều kiện khác nhau, kể cả mức bồi thường. Từ đó, các khách hàng sẽ tự động lựa chọn loại hợp đồng bảo hiểm phù hợp, và như vậy đã tự phân loại mình vào các nhóm khách hàng khác nhau. Những khách hàng có rủi ro thấp thường thích loại hợp đồng có phí bảo hiểm thấp trong khi khách hàng có rủi ro cao lại lựa chọn hợp đồng có phí bảo hiểm cao. Đến năm 2001, các tác giả của lý thuyết về BCXTT là George Akerlof, Michael Spence và Joseph Stiglitz đã cùng vinh dự nhận giải Nobel kinh tế cho “những phân tích về thị trường của họ với lý thuyết BCXTT”27 (The Sveriges Riksbank Prize in Economic Sciences in Memory of Alfred Nobel 2001 was awarded jointly to George A.
Michael Spence and Joseph E. Stiglitz "for their analyses of markets with asymmetric information.2 Các đặc tính của Bất cân xứng thông tin Từ lý thuyết nguồn của các tác giả tiên phong trên, hiện có nhiều cách tiếp cận khác nhau để định nghĩa BCXTT trong giới kinh tế và học thuật tại Việt nam: “Thông tin bất cân xứng xảy ra khi một bên đối tác nắm giữ thông tin còn bên khác thì không biết đích thực mức độ thông tin ở mức nào đó”28. 26 Michael Rothschild, Joseph Stiglitz (1976), Equilibrium in competitive insurance markets: An essay on the economics of imperfect information, The Quarterly Journal of Economics, 1976. 27 Website: https://www.org/prizes Michael Rothschild, Joseph Stiglitz (1976), Equilibrium in competitive insurance markets: An essay on the economics of imperfect information, The Quarterly Journal of Economics, 1976./economic-sciences/2001/press-release/, truy cập ngày 04 tháng 04 năm 2019.
28 Nguyễn Trọng Hoài (2006), Bất cân xứng về thông tin trên các thị trường tài chính, Bài giảng cho học viên cao học, Đại học Kinh tế TP. 12 “Thông tin bất cân xứng là tình trạng trong một giao dịch có một bên có thông tin đầy đủ hơn và tốt hơn so với (các) bên còn lại.”29 “Bất đối xứng thông tin là một khái niệm trong chuyên ngành kinh tế học thông tin mô tả tình huống trong đó những người tham gia tương tác trên thị trường nắm được những thông tin khác nhau về giá trị hoặc chất lượng của một tài sản hay dịch vụ đang được giao dịch (trao đổi) trên thị trường đó.”30 Tuy nhiên bất kể là định nghĩa theo cách nào, tổng quan BCXTT vẫn mang những đặc tính cơ bản, như liệt kê dưới đây.1 Lựa chọn bất lợi (Adverse selection) Theo tác giả Nguyễn Trọng Hoài (2006) thì “Lựa chọn bất lợi là kết quả của thông tin bị che đậy, nó xảy ra trước khi thực hiện giao dịch hay nói cách khác trước khi ký hợp đồng”31. Mô tả này tiếp cận vấn đề theo hướng chú trọng vào hành vi chủ động của một bên để che dấu thông tin và đối tác đã quyết định giao dịch dựa trên sự che dấu đó. Trên thực tế, cha đẻ của lý thuyết BCXTT lần đầu tiên đề cập đến khái niệm Sự lựa chọn bất lợi ở góc độ bao quát hơn.
Theo ví dụ về thị trường mua bán xe hơi của George A. Akerlof được trình bày ở phần trên, có thể thấy Sự lựa chọn bất lợi là hệ quả của tình trạng thiếu vắng các thông tin cần thiết về hàng hóa của một bên trong giao dịch để có thể đi đến một quyết định chính xác và công bằng. Tiến trình Lựa chọn bất lợi này được lặp đi lặp lại có thể dẫn đến sự biến mất của thị trường hàng hóa đó.2 Rủi ro đạo đức (Moral hazards) hay tâm lý ỷ lại Đặc tính tiếp theo của BCXTT là nó sẽ gây ra tâm lý ỷ lại hay còn gọi là rủi ro đạo đức, theo đó “Rủi ro đạo đức hay tâm lý ỷ lại là tình trạng cá nhân hay tổ 29 Đặng Văn Thanh (2012), Thông tin bất cân xứng – Kinh tế học vi mô dành cho chính sách công, Chương trình giảng dạy Kinh tế Fulbright – học kỳ mùa Thu, 2012. 30 Hồ Công Hoài Phương (2010), Thương hiệu và lý thuyết bất đối xứng thông tin, Thời báo Kinh tế Sàigòn, Ngày 24 tháng 03 năm 2010.vn/31349/Thuong-hieu-va-ly-thuyet-bat- doi-xung-thong-tin.html, truy cập ngày 04 tháng 04 năm 2019.
31 Lê An Khang (2008), Ảnh hưởng của thông tin bất cân xứng đối với nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sĩ Kinh tế - Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, 2008. 13 chức không còn động cơ để cố gắng hay hành động một cách hợp lý như trước khi giao dịch xảy ra”32. Trong ví dụ từ thị trường việc làm của Michael Spence như trình bày ở phần trên, có thể thấy tâm lý ỷ lại sẽ xuất hiện khi một bên không thể quan sát hay nhận định được năng lực, xu hướng gian dối, không trung thực hay biểu hiện những hành vi không tốt của bên còn lại. Rõ ràng nếu các ông chủ không thể tiếp tục kiểm tra các tín hiệu chỉ dấu năng lực hay xu hướng hành vi của người làm công sau khi giao kết khế ước lao động, chắc chắn công việc sẽ không đảm bảo sẽ được hoàn thành với thời gian nhanh nhất mà không có sai sót.
Rủi ro đạo đức cũng xảy ra khi một bên không phải chịu trách nhiệm hay hậu quả cho việc làm của mình, và vì vậy họ có tâm lý bỏ mặc bất kể hậu quả hay không cần phải thận trọng, và đôi khi có thể khiến cho người khác phải gánh chịu một phần trách nhiệm hay hậu quả từ sự bỏ mặc hay bất cẩn của mình.