Chương 1 KHÁI QUAT CHUNG VE HỢP DONG MUA BAN TÀI SAN DO VO CHONG THUC HIEN 1. KHÁI NIỆM VE HOP DONG MUA BAN TAI SAN DO VO CHONG THUC HIEN 1. Khái niệm tài sản, tai sản chung, tai sản riêng của vợ chồng 11. Khái niệm tài sản Tài sản là một khái niệm quen thuộc đối với bất kỳ ai, bởi đơn giản tài sản là công cụ của đời sống con người.
Theo từ điển tiếng Việt thì “Tai sản” là: Của cải vật chất dùng dé sản xuất hoặc tiêu đùng. Tuy nhiên, quan niệm pháp lý và quan niệm đời thường về tài sản lại có đôi chút khác biệt. Về mặt pháp lý, nhận thức đúng về tài sản và phân loại tài sản có vai trò rất quan trọng trong việc tạo lập các quy định pháp luật và giải quyết các tranh chấp pháp lý. Dưới thời Pháp thuộc, các quy định về tài sản trong ba bộ dân luật của Việt Nam đều mô phỏng lại cách quan niệm về tài sản như trong Bộ luật Dân sự Pháp.
Bộ Dân luật giản yếu Nam Kỳ 1883 (GYNK), Bộ Dân luật Bắc Kỳ 1931 (DLBK) và Bộ Dân luật Trung Kỳ 1936 (DLTK) đều thừa nhận tài sản chia thành hai loại: Bất động sản và động sản. Mỗi loại có một quy chế pháp lý khác nhau. Tiếp đó các bộ luật cũng liệt kê các loại tài sản vào hai nhóm (là bất động sản theo tính chất, theo mục đích và theo quyền sử dụng - Điều 450, 452, 453 DLBK và Điều 461, 462, 464 DLTK; là động sản theo tính chất và do pháp luật quy định - Điều 454 Bộ DLBK, Điều 466, 469 DLTK). Bộ Dân luật Sài Gòn 1972 cũng lẫy nguyên mẫu các tiêu chí phân loại bất động sản và động sản của Bộ luật Dân sự Pháp.
BLDS năm 1995 quy định: “Tdi sản bao gồm vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiên và các quyên tài sản”. Quy định về tài sản của BLDS năm 1995 nhìn chung là một điểm tiến bộ, đã đáp ứng được phan nào những đòi hỏi của thực tiễn. Tuy nhiên khi xã hội phát triển, nhiều yêu cầu mới đặt ra, đòi hỏi phải có những sửa đổi, bổ sung phù hợp. Điều 163 BLDS năm 2005 quy định lại về tài sản như sau: “Tài sản bao gém vat, tiền, giấy tờ có giá và các quyên tài sản”.
Như vậy, BLDS năm 2005 đã bỏ cụm từ “có thuc” trong quy định về vật trong BLDS năm 1995. “Vat được hiểu theo Điều 163 rộng hơn, không chỉ là những vật có thực mà cả những vật chắc chắn được hình thành trong tương lai (nhà sẽ xây, tàu thuyền sẽ đóng, hoa màu sẽ thu hoạch.) cũng có thể là đối tượng của giao dịch dân sự. Quy định này phù hợp hơn với đời sống thực tế và các giao lưu dân sự trong cơ chế kinh tế thị trường. Cum từ “giấy to tri giá được bằng tiền” cũng được đổi thành “giấy to có giá”.
Tuy nhiên, cũng giống như BLDS năm 1995, BLDS năm 2005 mới chỉ liệt kê ra các loại tài sản mà chưa có khái niệm về tài sản. Trong bốn loại tài sản được liệt kê thì chỉ có duy nhất quyền tài sản là có khái niệm trong BLDS năm 2005. Có rất nhiều cách phân loại tài sản khác nhau như: Căn cứ vào chủ sở hữu (tài sản chung, tài sản công, tài sản tư), căn cứ vào việc có hay không có đặc tính vật lý (tài sản hữu hình và tài sản vô hình), căn cứ vào đặc tính di dời hay không di đời được của tài sản hữu hình và các quyền được thiết lập trên đó hay không được thiết lập trên đó (động sản và bất động sản). Mỗi cách phân loại tài sản đều có những quy chế pháp lý tương ứng.
Điều 174 BLDS năm 2005 chỉ cho ta thấy, pháp luật Việt Nam đã lựa chọn cách phân loại tài sản thành động sản và bât động sản như sau: - Bat động sản là các tài sản bao gém: Dat dai; Nhà, công trình xây dung gan liên với dat đai, kê cả các tài san gan liên với nhà, công trình xây dung đó; Các tài sản khác gan lién với đất dai; Các tài sản khác do pháp luật quy định. - Động sản là những tài sản không phải là bất động sản. Khái niệm tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chong Việc quy định tài sản của vợ chồng trong luật HN&GD là một yêu cầu khách quan, nhăm cụ thé hóa các quy định về sở hữu trong BLDS và chế độ tài sản của vợ chồng trong luật HN&GD. Vì thế, căn cứ xác định tài sản của vợ chồng không mang tính chủ quan của nhà làm luật, mà nó được gắn liền với sự vận động phát triển của gia đình, trình độ phát triển kinh tế - xã hội, các giá trị truyền thống đạo đức, phong tục, tập quán, tâm lý, nguyện vọng của người Việt Nam.
Quy định về tài sản vợ chồng tạo cơ sở pháp ly dé vợ chồng thực hiện sự dân chủ và bình dang trong các quan hệ về tài sản, khuyến khích vợ chồng có trách nhiệm đối với gia đình khi xây dựng cơ sở vật chất cho cuộc sống chung. Đồng thời đảm bảo tính độc lập của vợ, chồng khi tham gia các giao dịch dân sự, kinh tế với tư cách cá nhân. Nhà làm luật ở mỗi quốc gia đều lựa chọn chế độ tài sản của vợ chồng phù với điều kiện kinh tế - xã hội, tập quán, tuyên thống và nguyện vọng của các cặp vợ chồng. Trong đó thê hiện rõ ý chí của Nhà nước khi điều chỉnh quan hệ tài sản giữa vợ chồng.
Tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành điều chỉnh chế độ tài sản của vợ chồng phản ánh điều kiện vật chất của xã hội đó, bảo đảm phù hợp với ý chí, quyền lợi của giai cấp thống trị xã hội. Bên cạnh việc quy định về căn cứ, nguồn gốc các loại tai sản của vo chồng, luật quy định về quyền hạn, nghĩa vụ của vợ, chồng đối với các lại tài sản đó; cũng như các nguyên tắc phân chia và quyên lợi được hưởng từ tài sản đó của vợ, chông. Theo nguyên lý của học thuyết Mác — Lênin, trong xã hội còn duy trì đối kháng giai cấp, duy trì quan hệ người bóc lột người, khó có thé có được quyền bình đăng thực sự giữa vợ và chồng về vấn đề tài sản trong quan hệ gia đình. Bởi lẽ, khi các quyền nhân thân của người vợ bị phụ thuộc, do người chồng định liệu, người chồng là gia trưởng, là chủ gia đình theo luật định thì bắt buộc người vợ phải phụ thuộc chồng về vấn đề tài sản trong gia đình.
Ngược lại, khi mỗi quan hệ bình đăng về mọi mặt giữa vo chồng được xác lập, thì quyền lợi và nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng được bảo đảm, không những về mặt pháp luật mà còn được thực hiện trong đời sông xã hội. Tài sản của vợ chồng là một chế định không chỉ liên quan đến quyền sở hữu, có ý nghĩa kinh tế đơn thuần mà còn phản ánh các yếu tố chính tri, van hóa, xã hội, truyền thống đạo đức, phong tục tập quán, tâm lý, nguyện vọng của nhân dân. Do vậy, pháp luật HN&GD của Việt Nam luôn găn liền với thực tiễn kinh tế - xã hội ở mỗi giai đoạn phát triển, đã có những quy định khác nhau về tài sản của vợ chồng cụ thể là về căn cứ xác định tài sản của vợ chồng, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản đó, cũng như trong việc thực hiện các giao dịch giữa vợ và chồng với người thứ ba. Pháp luật HN&GD không đưa ra khái niệm về tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng mà chỉ liệt kê các loại tài sản thuộc quyền sở hữu chung của vợ chông và tài sản thuộc sở hữu riêng của mỗi bên vợ, chông.
Pháp luật HN&GD Việt Nam đã phân loại tài sản của vợ chồng thành: Tài sản chung của vợ, chồng (Điều 27 luật HN&GD năm 2000) và tài sản riêng của vợ, chồng (Điều 32 luật HN&GD năm 2000). * Tài sản chung của vợ chồng: Cuộc sống chung giữa vợ chồng khi quan hệ hôn nhân được xác lập đòi hỏi phải có một khối tài sản nhằm bảo đảm nhu cầu đời sống của gia đình. Thỏa mãn nhu cầu về tinh thần, vật chất của vợ chồng, nghĩa vụ chăm sóc lân nhau giữa vợ chông; nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng các con. Kê 10 thừa và phát triển quy định của luật HN&GD qua từng thời kỳ, luật HN&GD năm 2000 đã quy định rất cụ thé về tài sản chung của vợ chồng tại Điều 27 như sau: - Tài sản chung của vợ chong gôm tài sản do vợ, chong tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chông trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chong được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chong thỏa thuận là tài sản chung.
- Quyên sử dung dat mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chong. Quyên su dụng dat ma vợ hoặc chông có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thỏa thuận. - Tài sản chung của vợ chong thuộc sở hữu chung hợp nhất. - Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng kỷ quyên sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyên sở hữu phải ghi tên của ca vợ chong.
- Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ chong dang có tranh chấp là tài sản riêng của môi bên thì tài sản đó là tài san chung. Pháp luật HN&GD không dua ra khái niệm tài sản chung của vợ chồng mà chỉ liệt kê những tài sản được coi là tài sản chung, tài sản riêng. Dựa trên quy định của pháp luật, chúng tôi đưa ra khái niệm tài sản chung của vợ chông như sau: Tài sản chung cua vợ chong là vat, tiên, giáy tờ có giả, các quyên tài san thuộc quyên sở hữu cua vợ chong. Tài sản chung của vợ chong có một sô đặc diém sau: 11 - Tài sản chung của vợ chồng phát sinh chủ yếu trên cơ sở luật định mà không phụ thuộc vào ý chi của vợ chong: Pháp luật HN&GD Việt Nam chỉ thừa nhận duy nhất chế độ tài sản pháp định mà không cho phép vợ chồng thỏa thuận về tài sản như pháp luật một số quốc gia khác.
Do đó, việc xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng trước hết dựa vào các căn cứ luật định.