Chương 1: Những vấn đề lý luận về bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng Chương 2: Thực trạng pháp luật về bảo vệ người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng Chương 3: Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ NGƢỜI LAO ĐỘNG ĐI LÀM VIỆC Ở NƢỚC NGOÀI THEO HỢP ĐỒNG 1. Khái niệm ngƣời lao động đi làm việc ở nƣớc ngoài theo hợp đồng và bảo vệ ngƣời lao động đi làm việc ở nƣớc ngoài theo hợp đồng Trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay, di cư lao động quốc tế đã trở thành một trong những vấn đề lớn của thời đại. Theo ước tính của các cơ quan Liên Hợp quốc, hiện trên thế giới có gần 200 triệu người lao động di trú, chiếm khoảng 3% dân số toàn cầu, và con số này vẫn đang ngày càng tăng lên cùng với sự phát triển của dân số và khả năng giải quyết việc làm của mỗi quốc gia. Tình trạng di trú vì việc làm góp phần làm năng động hóa các hoạt động kinh tế của thế giới nói chung, nền kinh tế quốc gia nói riêng cũng như cho nhiều người lao động, gia đình.
Tuy nhiên nó cũng tiềm ẩn nhiều khó khăn, thách thức mà các Chính phủ và người lao động di trú khắp nơi phải đối mặt. Đây là một bất công có tầm vóc toàn cầu, bởi lao động di trú là lực lượng đã và đang có những đóng góp to lớn và không thể phủ nhận với nền kinh tế và sự thịnh vượng xã hội của cả nước tiếp nhận và nước gốc [22, tr3]. Để có cái nhìn khái quát nhất về bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng trước hết chúng ta sẽ đi tìm hiểu thế nào là người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, cách phân loại và đặc điểm của người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng ra sao. Người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng Có nhiều thuật ngữ để chỉ những người lao động ra nước ngoài làm việc như “người lao động di trú”, “lao động di cư”, “người di trú vì việc làm”, “người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng”.
và theo thời gian, 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các quan điểm của các tổ chức quốc tế, của các quốc gia về người lao động đi làm việc ở nước ngoài cũng có nhiều thay đổi, bổ sung. Mỗi một quốc gia khác nhau thì việc công nhận một người là người lao động đi làm việc ở nước ngoài cũng khác nhau. Quan niệm về người lao động đi làm việc ở nước ngoài lần đầu tiên được quy định tại Điều 11 Công ước 97 của ILO năm 1949, khi đó ILO đã sử dụng thuật ngữ người di trú vì việc làm để hàm chỉ nhóm người này. Theo đó, người di trú vì việc làm được hiểu là một người di cư từ một quốc gia này tới quốc gia khác để tìm kiếm việc làm bao gồm bất kỳ người nào được tuyển dụng một cách lâu dài như là một người di trú vì việc làm.
Khái niệm này không bao hàm: những lao động qua lại các vùng biên giới, những nghệ sĩ và người có chuyên môn hành nghề tự do đến làm việc ở nước khác trong thời gian ngắn và các thủy thủ. Với cách giải thích đó, ILO quan niệm người lao động đi làm việc ở nước ngoài khá rộng, không đặt ra vấn đề người di trú có quốc tịch hay không, sự di chuyển có cần xuất phát từ nước gốc hay không, việc sinh sống và làm việc ở nước ngoài là có thời hạn hay không có thời hạn. Chính vì quan niệm một cách khái quát và chung chung như vậy đã khiến cho việc quản lý cũng như bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài thời kỳ này gặp khó khăn hơn và trên thực thế khó được thực hiện vì vấn đề quốc tịch không được đặt ra. Bởi quốc tịch là trạng thái pháp lý thể hiện mối quan hệ giữa công dân một nhà nước xác định, quốc tịch cho phép người lao động đi làm việc nước ngoài quyền được bảo vệ bởi nhà nước nơi họ có quốc tịch khi tham gia quan hệ lao động có yếu tố nước ngoài.
Kế thừa và phát huy quan niệm của ILO, năm 1990, Liên Hợp quốc đã cụ thể hóa khái niệm người lao động đi làm việc ở nước ngoài trong Công ước quốc tế về quyền của người lao động di trú và các thành viên trong gia đình họ (Viết tắt: MWC). Liên Hợp quốc gọi những người lao động đi làm việc nước 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ngoài là “lao động di trú”, “lao động di trú” được định nghĩa là một người đã, đang và sẽ làm một công việc có hưởng lương tại một quốc gia mà người đó không phải là công dân (Khoản 1 Điều 2 MWC). Khái niệm này khẳng định đi làm việc ở nước ngoài là cả một quá trình từ chuẩn bị lên đường, trên đường sang nước ngoài, trong thời gian làm việc ở nước ngoài và cả sau thời làm việc ở nước ngoài. Người lao động đi làm việc ở nước ngoài không chỉ có những người đang làm việc ở nước ngoài mà còn bao gồm cả những người chuẩn bị, trên đường sang nước ngoài, và những người đã hồi hương, đây cũng chính là những đối tượng cần được bảo vệ.
Quan niệm này đã giúp các tổ chức quốc tế, các quốc gia liên quan dễ dàng đề ra các biện pháp bảo vệ người lao động thích hợp cho giai đoạn. Khái niệm của Liên Hợp quốc đã đề cập đến vấn đề quốc tịch của người lao động. Người không quốc tịch, không chịu sự ràng buộc nghĩa vụ pháp lý và được hưởng sự bảo vệ của một quốc gia thì không được coi là người lao động đi làm việc nước ngoài, đi làm việc nước ngoài ở đây được hiểu là đi làm việc tại nước mà người lao động không phải là công dân. Liên Hợp quốc còn quan niệm mục đích di cư sang nước khác của người lao động phải là vì tìm kiếm việc làm, hưởng lương ở một quốc gia khác trong một khoảng thời gian nhất định.
Quan điểm mục đích tìm kiếm việc làm và hưởng lương tại quốc gia khác là để loại trừ những đối tượng di cư ra nước ngoài vì những mục đích khác như học tập, nghiên cứu, du lịch, tránh nạn, làm từ thiện,. từ đó đưa ra biện pháp bảo vệ phù hợp nhất với nhóm đối tượng này. Việc xác định thời hạn làm việc của người lao động ở nước ngoài cũng là nhằm để loại trừ những đối tượng đi làm việc và định cư luôn ở nước ngoài. Dựa trên tình trạng pháp lý của việc cư trú và lao động, Liên Hợp quốc đã chia người lao động đi làm việc ở nước ngoài thành hai loại là: người lao 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com động di trú có giấy tờ hợp pháp (hay lao động di trú hợp pháp) và người lao động di trú không có giấy tờ (hay lao động di trú bất hợp pháp), trong đó người lao động di trú hợp pháp là những người được một nước cho phép vào, ở lại và được làm một công việc được trả lương tại quốc gia đó, còn người lao động di trú bất hợp pháp thì không được trao các quyền tương tự.
Để làm rõ khái niệm người lao động di trú, Liên Hợp quốc còn liệt kê và định nghĩa những đối tượng được coi là lao động di trú và những đối tượng không được coi là lao động di trú dựa trên tính chất nghề nghiệp. Theo đó, những đối tượng được coi là lao động di trú (Khoản 2 Điều 2 MWC) gồm 8 dạng: Nhân công vùng biên, Nhân công theo mùa, Người đi biển (bao gồm cả ngư dân), Nhân công làm việc tại một công trình trên biển, Nhân công lưu động, Nhân công theo dự án, Nhân công lao động chuyên dụng, Nhân công tự chủ. Những đối tượng không được coi là lao động di trú (Điều 3 MWC), bao gồm 6 dạng chính: Những người được cử hoặc tuyển dụng bởi các cơ quan và tổ chức quốc tế, hoặc những người được cử hoặc được tuyển dụng bởi một nước sang một nước khác để thực hiện các chức năng chính thức mà việc tuyển dụng người đó và địa vị của người đó được điều chỉnh bởi pháp luật quốc tế chung hoặc các hiệp định hay công ước quốc tế cụ thể; Những người được cử hoặc tuyển dụng bởi một nước hoặc người thay mặt cho nước đó ở nước ngoài tham gia các chương trình phát triển và các chương trình hợp tác khác mà việc tiếp nhận và địa vị của người đó được điều chỉnh theo thỏa thuận với quốc gia nơi có việc làm và theo thỏa thuận này, người đó không được coi là người lao động di trú; Những người sống thường trú ở một nước không phải quốc gia xuất xứ để làm việc như những nhà đầu tư; Những người tị nạn và không có quốc tịch; Sinh viên và học viên; Những người đi biển hay người làm việc trên các công trình trên biển không được nhận vào để cư trú và tham gia vào một công việc có hưởng trả lương ở quốc gia nơi có việc làm. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nếu so sánh với khái niệm trước đây về người lao động đi làm việc nước ngoài thì khái niệm được nêu trong Công ước của Liên Hợp quốc mang tính chất cụ thể hơn và giới hạn phạm vi các đối tượng được coi là người lao động đi làm việc nước ngoài hơn.
Theo pháp luật Việt Nam, người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng là công dân Việt Nam cư trú tại Việt Nam, có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật của nước tiếp nhận lao động, đi làm việc ở nước ngoài theo quy định của Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài (Khoản 1 Điều 3 Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng). Quy định trên khẳng định người lao động đi làm việc ở nước ngoài phải là người có quốc tịch Việt Nam và cư trú tại Việt Nam, nghĩa là nếu một công dân Việt Nam đang cư trú ở nước ngoài và sau đó sang quốc gia thứ ba khác để làm việc thì sẽ không được coi là người lao động đi làm việc ở nước ngoài.