Chương I. Một số vấn đề lý luận chung. Chương 2: Thực trạng và nguyên nhân trong công tác bảo tồn di sản du lịch sinh thái Tràng An ở tỉnh Ninh Bình. Một sé giai phap trong van dé bao tén di san du lich sinh thai Trang An trén co so van dung quan diém toan dién.
MOT SO VAN DE LY LUẬN CHUNG 1. Mối liên hệ - cơ sở triết học của quan điểm toàn diện 1. Khái quát về pháp biện chứng duy vật “Phép biện chứng là học thuyết nghiên cứu, khái quát biện chứng của thế giới thành hệ thống các nguyên lý, quy luật khoa học nhằm xây dựng hệ thống các nguyên tắc phương pháp luận định hướng hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người”. Ăngghen đã đưa ra định nghĩa phép biện chứng như sau: “Phép biện chứng chẳng qua chi là môn khoa học về những quy luật phố biến của sự vận động và phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy” [13, tr.
Phép biện chứng ra đời từ thời cổ đại và đã phát triển qua ba hình thức cơ bản sau: phép biện chứng chất phác thời cổ đại, phép biện chứng duy tâm và phép biện chứng duy vật. Phép biện chứng thời cỗ đại, do trình độ tư duy chưa cao, khoa học chưa phát triển nên các nhà triết học cả phương Đông lẫn phương Tây chỉ dựa trên quan sát trực tiếp mang tính trực quan cảm tính để khái quát bức tranh chung của thế gidi. Ở phương Đông, nó được thể hiện rõ trong “Thuyết âm dương - ngũ hành”. Ở phương Tây, dưới con mắt của Hêracolít “mọi sự vật trong thế giới chúng ta đều thay đổi vận động phát triển không ngừng, không có sự vật, hiện tượng nào của thế giới là đứng im tuyệt đối, mà trái lại tat cả đều trong trạng thái biến đổi và chuyển hóa”.
Luận điểm bất hủ của ông “Chúng ta không ai có thê tắm hai lần trên một dòng sông” [2, tr. Phép biện chứng chất phác cổ đại nhận thức đúng về tính biện chứng của thế giới nhưng bằng trực kiến thiên tài, bằng trực quan chất phác, ngây thơ, còn thiếu những căn cứ khoa học. Vì vậy, nó đã bị phép biện chứng siêu hình xuất hiện và bị thay thế từ nửa cuối thế ki XV. Phép biện chứng thời phục hưng, cận đại thế ki XV đến thế ki XVII, phép biện chứng duy tâm xuất hiện trong triết học Cantơ và hoàn thiện nhất trong triết học Hêghen - một đại biểu xuất sắc của triết học cổ điển Đức ở cudi thé ki XVIII dau thé ki XIX.
Tinh chat duy tâm trong phép biện chứng cua Héghen thể hiện ở chỗ: ông coi “ý niệm tuyệt đối ” tha hóa thành giới tự nhiên và xã hội, cuối cùng lại trở về với chính mình trong tinh thần. Thực chất phép biện chứng duy tâm khách quan của Hêghen là phép biện chứng của ý niệm sản sinh ra biện chứng của sự vật. Phép biện chứng cô điển Đức có những đóng góp to lớn vào sự phát triển của tư duy biện chứng của nhân loại, thúc đây tư duy biện chứng phát triển lên một trình độ cao nhưng với hạn chế duy tâm, nó chưa thê trở thành cơ sở lý luận cho một phương pháp luận khoa học. Đến giữa thế ki XIX, C.Ăngghen đã sáng lập ra chủ nghĩa duy vật biện chứng và phép biện chứng duy vật, C.Ăngghen đã tiếp thu có phê phán triết học Hêghen và chủ nghĩa duy vật Phoiơbac.
Đối với Hêghen trong tác phẩm Bộ tư bản, Mác viết: “Ở Hegel, pháp biện chứng bị lộn ngược đầu xuống đất. Chỉ cần dựng nó lại là sẽ phát hiện được cái hạt nhân hợp lý của nó đằng sau cái vỏ than bí của nó ”[9, tr67 - 68]. Mác đã tiếp thu có chọn lọc triết học cũ và phát triển cao hơn, do vậy bản chất phép biện chứng của Mác cao hơn về bản chất so với phép biện chứng của Hêghen, ông nói: “Phương pháp biện chứng của tôi không những khác phương pháp biện chứng của Hêghen về cơ bản, mà nó còn đối lập hẳn với phương pháp ấy nữa. Theo Hêghen thì sự vận động của tư duy mà ông đặt cho cái tên là ý niệm và biến nó thành một chủ thể độc lập chính là chúa sáng tạo ra giới hiện thực và giới hiện thực này chẳng qua chỉ là hiện tượng bên ngoài của ý niệm mà thôi.
Trái lại, theo tôi thì sự vận động của tư duy là sự phản ánh sự vận động hiện thực di chuyển và biến hình trong đẫu óc con người ”[1I, tr. Nhờ đó, chủ nghĩa Mác mang giá trị to lớn đó là tính phê phán đối với mọi quan điểm sai lầm, những quan điểm siêu hình, chủ trương phát động. Một trong những kẻ xuyên tạc chủ nghĩa Mác là Đuyrinh - Giáo sư môn cơ học người Đức, nhà triết học và kinh tế học. Ăngghen đã phản đối và kịch liệt phê phán quan niệm của Đuyrinh trong cuốn sách “Chống Duyrinh”.
Chinh trong tác phẩm này, Ăngghen đã đưa ra định nghĩa hoàn chỉnh về phép biện chứng “Phép biện chứng chẳng qua chỉ là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và tư duy ”[10, tr. Như vậy, trong triết học Mác - Lênin thế giới quan duy vật biện chứng và phương pháp luận biện chứng duy vật thống nhất hữu cơ với nhau trong phép biện chứng ấy. Chính vì vậy, nó đã khắc phục được những hạn chế của phép biện chứng chất phác thời cổ đại và những thiếu sót của phép biện chứng duy tâm khách quan thời cận đại. “Phép biện chứng duy vật trở thành môn khoa học và là hình thức phát triển cao nhất, hoàn bị nhất trong lịch sử phép biện chứng.
Bao gồm một hệ thống các nguyên lý (nguyên lý về sự phát triển, nguyên lý về mối liên hệ phổ biến), những cặp phạm trù cơ bản (cái riêng, cái chung và cái đơn nhất; nguyên nhân và kết quả; bản chất và hiện tượng; tất nhiên và ngẫu nhiên; nội dung và hình thức; khả năng và hiện thực), những quy luật (quy luật chuyên hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại; quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập; quy luật phủ định của phủ định)” [12, tr22]. Trong hệ thống đó, nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển là hai nguyên lý khái quát nhất trong phép biện chứng duy vật. Tuy nhiên, trong phạm vi khóa luận này, chúng ta sẽ đi sâu tìm hiểu nguyên lý về mối liên hệ phổ biến - cơ sở triết học của quan điểm toàn điện. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biễn * Các khái niệm cơ bản: - Khái niệm mối liên hệ: Trong phép biện chứng, “khái niệm mối liên hệ dùng để chỉ sự quy định, sự tác động và chuyên hóa lần nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt, các yếu tố của mỗi sự vật, hiện tượng trong thế giới”.
Ví dụ, giữa cung và cầu (hàng hóa, dịch vụ) trên thị trường luôn luôn diễn ra quá trình cung và cầu quy định lẫn nhau, cung và cầu sẽ tác động, ảnh hưởng lẫn nhau, chuyên hóa lẫn nhau. Từ đó, tạo nên quá trình vận động, phát triển không ngừng của cả cung và cầu. Đó chính là những nội dung cơ bản khi phân tích mối quan hệ biện chứng giữa cung và cầu. - Khái niệm mối liên hệ phố biến được sử dụng với hai hàm nghĩa: + Thứ nhất, dùng dé chi tính phé biến của các mối liên hệ (ví dụ như: khi khẳng định rằng mối liên hệ là cái vốn có của tất thảy mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới, không loại trừ sự vật, hiện tượng nào, lĩnh vực nào).
+ Thứ hai, khái niệm mối liên hệ phô biến cũng dùng đề chỉ những liên hệ tồn tại (được thể hiện) ở nhiều sự vật, hiện tượng của thế giới (tức là dùng dé phân biệt với khái niệm các mối liên hệ đặc thù chỉ biểu hiện ở một hay một số các sự vật, hiện tượng hay lĩnh vực nhất định). Ví dụ, mối liên hệ giữa cung và cầu là mối liên hệ phô biến, tức cũng là mối liên hệ chung, nhưng mối liên hệ đó được thể hiện cụ thể khác nhau, có tính chất đặc thù tùy theo từng loại thị trường hàng hóa, tùy theo thời điểm thực hiện. Khi nghiên cứu cụ thê từng loại thị trường hàng hóa, không thể không nghiên cứu những tính chất riêng có (đặc thù) đó. Nhưng dù khác nhau bao nhiêu thì chúng vẫn tuân theo những nguyên tắc chung của mối quan hệ cung cầu.
* Cơ sở lý luận của nguyên lý vê mối liên hệ phổ biến: Khi giải thích về sự ton tại của thé giới, những câu hỏi được đặt ra là: Các sự vật, hiện tượng và quá trình khác nhau của thế giới có mối liên hệ qua lại, tác động ảnh hưởng lẫn nhau hay chúng tôn tại biệt lập, tách rời nhau? Nếu chúng có mối liên hệ qua lại thì cái gì quy định những mối liên hệ đó? Để trả lời các câu hỏi này, những người theo quan điểm siêu hình và theo quan điểm biện chứng có những cách lý giải khác nhau. Trả lời cho câu hỏi thứ nhất, những người theo quan điểm siêu hình cho rằng: Các sự vật, hiện tượng tồn tại biệt lập, tách rời nhau, cái này tồn tại bên cạnh cái kia. Chúng không có sự phụ thuộc, không có sự ràng buộc và quy định lẫn nhau. Nếu giữa chúng có sự quy định thì chỉ là sự quy định lẫn nhau cũng chỉ là sự quy định bề ngoài mang tính ngẫu nhiên.
Tuy vậy, trong số những người theo quan điểm siêu hình cũng có một số người cho rằng, các sự vật, hiện tượng có mối quan hệ rất đa dạng, phong phú song các hình thức liên hệ khác nhau không có khả năng chuyền hóa lẫn nhau. Hạn chế của quan điểm siêu hình là sai lầm về thế giới quan triết học, dựng lên ranh giới giả tạo giữa các sự vật, hiện tượng. Hạn chế này có nguồn gốc bởi phương pháp tư duy siêu hình, nghiên cứu tách rời các lĩnh vực, các bộ phận riêng rẽ của thế giới gắn với trình độ tư duy khoa học còn ở giai đoạn sưu tập tài liệu. Phương pháp đó không có khả năng phát hiện ra được cái chung, cái bản chất, quy luật của sự tồn tại, vận động và phát triển của các sự vật, hiện tượng trong thế giới.
Trái lại, những người theo quan điểm biện chứng cho rằng: các sự vật, hiện tượng, các quá trình khác nhau vừa tồn tại độc lập, vừa quy định, tác động qua lại, chuyên hóa lẫn nhau.