phần mở đầu, kết luận, danh mục công trình khoa học của tác giả liên quan đến luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận án đƣợc kết cấu gồm 04 chƣơng, 11 tiết. 8 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI ĐỐI VỚI PHỤ NỮ Ở NÔNG THÔN 1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Các nghiên cứu lý luận về thực hiện pháp luật về bảo hiểm xã hội đối với phụ nữ ở nông thôn 1.
Tình hình nghiên cứu trong nước Hiện nay, có rất nhiều nghiên cứu lý luận có liên quan đến đề tài luận án theo mức độ từ xa tới gần và ở nhiều chuyên ngành khác nhau nhƣ các nghiên cứu về bảo đảm quyền cho phụ nữ ở nông thôn Việt Nam; về thực hiện BHXH (gồm chế độ BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện); thực hiện pháp luật về BHXH cho NLĐ nói chung, cho lao động ở khu vực phi chính thức (KVPCT) nói riêng. Tuy nhiên, do yêu cầu về dung lƣợng nên Luận án chỉ tập trung đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu lý luận ở các nhóm công trình về bảo đảm quyền của phụ nữ ở nông thôn và thực hiện chế độ BHXH đối với lao động ở KVPCT. Các công trình nghiên cứu, báo cáo khoa học, luận án, luận văn, bài báo, tạp chí. đã xây dựng đƣợc khung lý thuyết khá hoàn chỉnh về phụ nữ ở nông thôn nhƣ: khái niệm, đặc điểm, vai trò; các điều kiện/yếu tố ảnh hƣởng đến tiếp cận và thụ hƣởng quyền của phụ nữ ở nông thôn.
- Cuốn sách “Xây dựng Nông thôn mới những vấn đề lý luận và thực tiễn”, do Vũ Văn Phúc là chủ biên, PGS, TS Nguyễn Linh Khiếu có bải viết “Thực trạng về phụ nữ nông dân, nông thôn khi tiến hành xây dựng nông thôn mới ở nƣớc ta hiện nay” quan niệm phụ nữ nông thôn là những ngƣời phụ nữ sinh sống và làm việc ở nông thôn; với thành phần đa dạng về sắc tộc, tôn giáo, lứa tuổi, trình độ học vấn khác nhau; hoạt động lao động chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngƣ nghiệp, kinh doanh dịch vụ và các ngành nghề thủ công truyền thống [56], từ đó, chỉ rõ đặc điểm phụ nữ nông thôn. - Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Thanh Nhàn (2017) đã kế thừa và phân tích sâu sắc hơn khái niệm phụ nữ ở nông thôn bằng việc làm rõ nông thôn là gì? Từ đó đi đến khái niệm: “Phụ nữ ở nông thôn là một cộng đồng ngƣời phong phú và đa dạng 9 về sắc tộc, tôn giáo, lứa tuổi, trình độ; sinh sống ở khu vực lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn; lao động chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngƣ nghiệp, các ngành nghề thủ công truyền thống” [54]. - Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Kim Thoa về “Vị thế vai trò của phụ nữ trong gia đình nông thôn Đồng bằng Bắc Bộ hiện nay (Qua nghiên cứu tại tỉnh Nam Định) chuyên ngành Xã hội học, chỉ ra vai trò của phụ nữ nông thôn trong hoạt động lao động sản xuất, đó là: (1) Phần lớn các khâu trong sản xuất nông nghiệp và chăm sóc con cái do ngƣời phụ nữ đảm nhiệm; (2) Điều kiện lao động không tƣơng xứng với vai trò, vị thế của phụ nữ ở nông thông; (3) Phụ nữ nông thôn là ngƣời đảm nhận chính việc chăm sóc thành viên gia đình. Nghiên cứu lý luận về đặc trƣng lao động nữ ở KVPCT, có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến thực hiện chính sách, pháp luật về BHXH tự nguyện đối với lao động ở KVPCT thuộc nhiều chuyên ngành nghiên cứu khác nhau.
Theo đó, các công trình đã xây dựng khung lý thuyết và làm rõ các cơ sở lý luận liên quan đến tổ chức, thực hiện pháp luật về BHXH tự nguyện ở KVPCT. Cụ thể là: - Đề tài “Nghiên cứu, khảo sát lao động phi chính thức” của Viện Khoa học Lao động và Xã hội, năm 2017 [87] chỉ ra rằng: Lao động phi chính thức là một bộ phận lớn thứ hai trong tổng lực lƣợng lao động. Lao động phi chính thức có những đặc điểm rất đa dạng và đặc thù riêng về lao động, việc làm đồng thời rất “nhạy cảm” trƣớc những thay đổi của kinh tế, xã hội và thị trƣờng lao động. Tình trạng việc làm dễ bị tổn thƣơng: công việc và thu nhập bấp bênh và không ổn định, điều kiện làm việc kém, không có hợp đồng lao động nên không đƣợc bảo vệ bởi hệ thống pháp luật về lao động; không đƣợc tham gia bảo hiểm xã hội nên không đƣợc đảm bảo về việc làm và thu nhập khi gặp rủi ro trong việc làm và cuộc sống, nhất là không có thu nhập khi hết tuổi lao động.
Trong khi đó lao động cao tuổi, phụ nữ, ngƣời có chuyên môn kỹ thuật thấp chiếm tỷ trọng rất cao trong nhóm lao động phi chính thức. Từ đó rút ra kết luận: Lao động phi chính thức cần đƣợc đối xử một cách bình đẳng trong các chính sách lao động, việc làm và ASXH. 10 - Đề tài khoa học cấp bộ (2019): “Nghiên cứu giải pháp mở rộng diện bao phủ BHXH đối với lao động khu vực phi chính thức tại Việt Nam”, do TS Bùi Sỹ Lợi làm chủ nhiệm đã chỉ rõ đặc trƣng của lao động KVPCT là: (1) trình độ chuyên môn, kỹ thuật, tay nghề thấp và yếu kém; (2) việc làm không ổn định, điều kiện làm việc thƣờng không đƣợc bảo đảm (3) thu nhập thấp; (4) không có hợp đồng lao động nên không thuộc diện bao phủ của BHXH bắt buộc; (5) nếu có tham gia BHXH tự nguyện thì chế độ BHXH cũng không đầy đủ. Đặc biệt, đề tài chỉ rõ các nhân tố ảnh hƣởng đến việc mở rộng diện bao phủ bảo hiểm xã hội đối với lao động KVPCT gồm: chính sách pháp luật; điều kiện kinh tế - xã hội; tuyên truyền phổ biến chính sách pháp luật bảo hiểm xã hội tự nguyện; khả năng tài chính của lao động KVPCT; nhận thức và thái độ của lao động KVPCT đối với chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện [42].
- Đề tài cấp bộ “Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng chính sách khuyến khích tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện đối với lao động nghèo, lao động là người dân tộc thiểu số, nông dân có mức thu nhập từ trung bình trở xuống” của Viện Khoa học Lao động và Xã hội, năm 2012 [86] cho biết rằng: Ngƣời nghèo và ngƣời dân tộc thiểu số thuộc diện tham gia BHXH tự nguyện không đủ khả năng tài chính để tham gia. Hộ có lao động trên 45 tuổi thì có tiềm lực tài chính tốt hơn và nguồn thu nhập từ làm công ăn lƣơng đóng vai trò quan trọng trong việc tham gia BHXH tự nguyện của hộ. Đối tƣợng tham gia BHXH tự nguyện chủ yếu thuộc hộ gia đình khá giả và giàu có, ngƣời nghèo, ngƣời thu nhập thấp không tiếp cận đƣợc chính sách này. - Cuốn sách “Bảo hiểm xã hội cho người nông dân ở một số nước Châu Âu: Lý luận và thực tiễn” do PGS, TS Đặng Minh Đức chủ biên đã cung cấp hệ thống lý luận về BHXH cho ngƣời nông dân ở Châu Âu gồm: khái niệm, đặc điểm, vai trò; một số tiêu chí đánh và phân tích các yếu tố ảnh hƣởng đến BHXH cho nông dân gồm: Mô hình phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập khu vực; thực hiện chính sách nông nghiệp chung; nhận thức của nông dân trong việc tham gia BHXH; thu nhập của ngƣời nông dân; áp dụng ngƣỡng tối thiểu [27].
- Luận án tiến sĩ “Nghiên cứu phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện đối với người lao động trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc” chuyên ngành nông nghiệp của Phạm 11 Thị Lan Phƣơng năm 2015 [58]; luận án tiến sĩ “Tổ chức triển khai bảo hiểm xã hội tự nguyện ở Việt Nam” chuyên ngành kinh tế của tác giả Hà Văn Sỹ, năm 2016 [67]. đã nghiên cứu cơ sở khoa học, cơ sở thực tiễn của công tác phát triển BHXH tự nguyện. Trong đó, luận án chỉ ra các hoạt động triển khai chính sách BHXH tự nguyện bao gồm: xây dựng tổ chức bộ máy; tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về BHXH tự nguyện; quản lý ngƣời tham gia BHXH tự nguyện; tổ chức thu - chi và đầu tƣ tăng trƣởng; đánh giá hoạt động thanh tra, kiểm tra, kết quả triển khai BHXH. Nghiên cứu về nhân tố ảnh hƣởng đến quyết định tham gia BHXH tự nguyện của ngƣời lao động, bài viết của Cao Hồng Liên, Nguyễn Thị Thanh Thúy về “Nhân tố ảnh hưởng quyết định tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của người lao động huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh” đã chỉ ra 5 yếu tố ảnh hƣởng gồm: (1) Nhận thức về ASXH; (2) Thái độ; (3) Hiểu biết về bảo hiểm xã hội; (4) Thu nhập và (5) Truyền thông; bài viết “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng về chất lượng dịch vụ của Bảo hiểm xã hội quận Gò Vấp” của Nguyễn Thị Hƣờng, trên tạp chí Công thƣơng, số 3 năm 2019, cũng chỉ ra các yếu tố ảnh hƣởng đến sự hài lòng của ngƣời dân về chất lƣợng dịch vụ BHXH gồm: (1) sự tin cậy, (2) sự đáp ứng, (3) năng lực phục vụ, (4) sự đồng cảm, (5) phƣơng tiện hữu hình, (6) qui trình thủ tục hành chính.
Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài Một số cuốn sách chuyên khảo, tham khảo về phụ nữ ở nông thôn đã nghiên cứu khá đầy đủ về vấn đề mà phụ nữ nông thôn đang phải đối mặt nhƣ: - Cuốn sách “Vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế” của Ester Boserup (1970). Theo tác giả, cho đến những năm 1970, những nghiên cứu phát hiện ra rằng mặc dù phụ nữ thƣờng là những ngƣời có đóng góp chính vào năng suất chủ yếu của cộng đồng, nhất là trong nông nghiệp. Tuy nhiên trong quá trình thực thi chính sách phát triển, hầu hết các dự án phát triển đều bỏ qua phụ nữ, đặc biệt là những dự án về kỹ thuật tinh xảo đã hạn chế các cơ hội, sự tự chủ về kinh tế của phụ nữ. Đồng thời, tác giả cũng đã chỉ ra những cơ hội đào tạo về kỹ thuật mới, tiên tiến thƣờng chỉ dành cho nam giới.
Điều đó có nghĩa là những dự án "hiện đại" chỉ cải thiện cơ 12 hội và kiến thức cho nam giới và đã làm giảm sự tiếp cận của phụ nữ với kỹ thuật và công việc làm [93]. - Cuốn sách (2012), Rural Women's Health (Sức khỏe của phụ nữ ở nông thôn) của Beverly D.