PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và từng bước hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới thì hệ thống ASXH, nhất là BHXH phải được phát triển và hoàn thiện, đáp ứng nhu cầu của NLĐ, của nhân dân, đây là một trong những nhu cầu rất cơ bản của con người. Bảo đảm ASXH, trước hết là về BHXH là một trong những mục tiêu rất quan trọng, thể hiện tính ưu việt của xã hội văn minh, ph hợp với xu thế chung của cộng đồng quốc tế hướng tới một xã hội phồn vinh, công bằng và an toàn. Mặt khác, mức độ đảm bảo quyền an sinh là một tiêu chí quan trọng đánh giá trình độ phát triển của một quốc gia, dân tộc.
Luật BHXH ra đời có hiệu lực từ năm 2007. Riêng chính sách BHXH tự nguyện được áp dụng từ năm 2008. Đây là luật đầu tiên ở Việt Nam đã thể chế hóa ở mức cao một nhu cầu rất cơ bản về ASXH của con người (bao gồm BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện, bảo hiểm thất nghiệp), trong đó BHXH tự nguyện là chính sách an sinh áp dụng cho đối tượng là NLĐ không thuộc phạm vi tham gia BHXH bắt buộc. Đến ngày 20/11/2014, Quốc hội đã thông qua Luật BHXH số 58/2014/QH13 để sửa đổi bổ sung Luật BHXH năm 2006 quy định về chính sách BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện, có hiệu lực từ ngày 01/01/2016.
Theo đó, chính sách BHXH tự nguyện đã mở rộng về đối tượng tham gia, phương thức đóng, mức đóng và chế độ hưởng nhằm mở rộng, nâng cao quyền tham gia, thụ hưởng chính sách cho đông đảo nhân dân lao động vì mục tiêu an sinh cho mọi người lao động khi về già. Bên cạnh đó, đồng hành c ng với NLĐ, từ ngày 01/01/2018, Nhà nước sẽ hỗ trợ tiền đóng cho người tham gia BHXH tự nguyện theo t lệ phần trăm (%) tháng đóng theo mức chu n hộ nghèo của khu vực nông thôn. Cụ thể, theo Nghị định 134/2015/NĐ-CP ngày 29/12/2015 của Chính Phủ quy định thì người tham gia BHXH tự nguyện thuộc hộ nghèo được hỗ trợ 30%, người thuộc hộ cận 2 nghèo được hỗ trợ 25% và các đối tượng khác được hỗ trợ 10% mức chu n hộ nghèo khu vực nông thôn. Phú Yên là một tỉnh thuần nông đang chuyển dịch dần sang hướng công nghiệp và dịch vụ do đó lực lượng lao động trong độ tuổi rất đa dạng gồm NLĐ thuộc lĩnh vực nông lâm ngư, NLĐ trong khu vực chính thức và NLĐ khu vực chính thức.
Trong đó NLĐ KVPCT là những NLĐ tự do, làm thuê, tiểu thương, làm thợ xây dựng, giúp việc nhà, làm thêm …và luôn có sự biến động, chuyển dịch lao động qua lại giữa các khu vực lao động khi là NLĐ KVPCT nhưng đến m a vụ họ là NLĐ thuộc khu vực nông lâm ngư hoặc có khi họ là nông dân nhưng cũng là người buôn bán nhỏ, làm thuê,. để có thu nhập trang trải cho cuộc sống hoặc cũng có khi là NLĐ trong khu vực chính thức bị thất nghiệp, bỏ việc trở thành NLĐ của các khu vực còn lại,…. Do đó có thể thấy nếu tính cả lao động khu vực nông lâm ngư thì lực lượng lao động KVPCT chiếm t lệ cao khoảng 60 đến 70% lực lượng lao động trong độ tuổi ở Phú Yên và đa số NLĐ thuộc khu vực này có thu nhập thấp, thiếu ổn định và hầu như chưa tham gia BHXH. Theo nguồn số liệu của Cục Thống kê tỉnh Phú Yên năm 2018 lực lượng lao động trong độ tuổi của tỉnh là 469.239 người và theo Báo cáo tổng kết năm 2018 của BHXH tỉnh Phú Yên, tổng số người tham gia BHXH toàn tỉnh là: 60.413 người, chiếm 12,9% lực lượng lao động trong độ tuổi.
Trong đó, số người tham gia BHXH tự nguyện là 3.487 người chiếm 0.74% lực lượng lao động trong độ tuổi của tỉnh. Con số tham gia còn khiêm tốn so với tiềm năng, lộ trình và kỳ vọng của ngành chức năng vào một chính sách xã hội lớn đặc biệt là mục tiêu đề ra của Nghị Quyết 28-NQ/TW ngày 23/5/2018 của Ban chấp hành Trung ương. Như vậy, còn hơn 400 nghìn NLĐ trong độ tuổi của Phú Yên chưa được tham gia BHXH trong đó đa số là NLĐ KVPCT. Nguyên nhân số lượng người tham gia còn ít là gì? Giải pháp nào cho bài toán phát triển đối tượng 3 tham gia BHXH tự nguyện ở tỉnh Phú Yên? Chính vì vậy, việc nghiên cứu: “Giải pháp phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện khu vực phi chính thức trên địa bàn tỉnh Phú Yên” là hết sức cấp thiết nhằm nghiên cứu đưa ra những giải pháp đồng bộ, cụ thể và ph hợp với tình hình phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu chính trị của ngành cũng như của địa phương trong thời gian đến.
Tổng quan tình hình nghiên cứu Trong những năm qua, việc phát triển đối tượng tham gia BHXH tự nguyện đã và đang được Đảng và Nhà nước ta quan tâm và coi trọng nhằm mục tiêu xây dựng, hoàn thiện một hệ thống an sinh xã hội bền vững. Chính sách BHXH trong đó có chính sách BHXH tự nguyện là một trụ cột chính của hệ thống an sinh do vậy đã có nhiều tác giả nghiên cứu về chính sách này. Cụ thể: - Đề tài: “Các giải pháp thực hiện BHXH tự nguyện đối với lao động thuộc khu vực nông, ngư và tiểu thủ công nghiệp”, do Trần Quốc Toàn, Lê Trường Giang nghiên cứu năm 2001. Công trình có ý nghĩa khoa học và xã hội rất lớn, ph hợp với xu thế mở rộng đối tượng tham gia BHXH, góp phần mở rộng mạng lưới và loại hình BHXH như: + Đã nghiên cứu, tổng hợp và hệ thống hoá theo logic, hợp lý, chặt chẽ những vấn đề lý luận khoa học về BHXH tự nguyện như nguyên tắc đoàn kết, tương trợ giữa những người tham gia BHXH tự nguyện và vai trò của Nhà nước trong việc hỗ trợ quỹ và bảo toàn, phát triển quỹ BHXH tự nguyện.
+ Đã nghiên cứu và đề cập các nhân tố ảnh hưởng tới việc tổ chức thực hiện BHXH tự nguyện, trong đó đi sâu vào đặc điểm lao động và tiêu thụ sản ph m trong nông nghiệp, ngư nghiệp và tiểu thủ công nghiệp để đánh giá khả năng tham gia BHXH của người lao động, làm cơ sở cho các nhà hoạch định chính sách nghiên cứu, xây dựng cơ chế, chính sách. 4 + Đã đi sâu nghiên cứu, phân tích việc thực hiện BHXH nông dân ở Nghệ An trên các giác độ quy định về chính sách; về tổ chức thực hiện thu, chi, quản lý đối tượng và tổ chức bộ máy; về an toàn quỹ, tức là đảm bảo khả năng chi trả và cân đối quỹ; về đảm bảo giá trị thực tế tiền lương hưu từ nguồn của BHXH tự nguyện. Nghiên cứu và xác định các giải pháp thực hiện BHXH tự nguyện, trong đó có các giải pháp về quản lý thu, quản lý chi, giải pháp về tổ chức bộ máy và về đầu tư tăng trưởng quỹ BHXH tự nguyện. + Sử dụng toán học, mô hình học để chứng minh sự mất cân đối quỹ BHXH nông dân theo chính sách của UBND tỉnh Nghệ An.
Từ đó góp tiếng nói cho UBND tỉnh trong việc ban hành Quyết định số 32/2001/QĐ-UB về việc ban hành điều lệ BHXH nông dân thay thế Quyết định số 1210/1998/QĐ-UB ngày 30/07/1998 về việc ban hành điều lệ tạm thời. + Đã đề cập đến mối liên hệ giữa BHXH tự nguyện với BHXH bắt buộc và đề xuất chuyển đổi BHXH nông dân sang loại hình BHXH tự nguyện (do mức đóng BHXH nông dân quá thấp, không ph hợp với BHXH BB). Đây là cơ sở để hạn chế việc mở rộng phạm vi thực hiện BHXH nông dân. + Các giải pháp thực hiện BHXH nông dân đã góp những kiến giải khoa học để các cơ quan có th m quyền tiếp tục nghiên cứu, cụ thể hoá trong các văn bản hướng dẫn tổ chức thực hiện và được áp dụng từng bước trong quá trình triển khai trên địa bàn cả nước.
- Đề tài: “Thực trạng BHXH khu vực phi chính thức ở Việt Nam” do Đổng Quốc Đạt nghiên cứu năm 2008 đã đánh giá thực trạng và các nguyên nhân chủ yếu dẫn đến người lao động chưa tham gia BHXH tự nguyện như: thu nhập thấp, chưa có tiết kiệm và tích lũy; thiếu hiểu biết và không có thông tin về chính sách, chế độ BHXH, không muốn tham gia vì chưa tin tưởng vào hoạt động BHXH hoặc việc thanh toán chế độ BHXH phức tạp. Trên cơ sở đó tác giả đã đưa ra một số giải pháp như cải cách thủ tục hành chính, phối hợp 5 chương trình BHXH tự nguyện với các chương trình mục tiêu quốc gia khác và tăng cường công tác thông tin tuyên truyền nâng cao nhận thức của người lao động. - Đề tài:“An sinh Xã hội khu vực phi chính thức: Cần xác định bảo hiểm xã hội là lưới quan trọng” do 02 tác giả B i Sỹ Tuấn – Đỗ Minh Hải (Viện Khoa học Lao động và Xã hội) nghiên cứu năm 2012 đã tìm hiểu khá sâu về khu vực phi chính thức, về lực lượng lao động phi chính thức tại Việt Nam, theo đó nhấn mạnh khu vực phi chính thức không chịu sự điều chỉnh của các Bộ Luật có liên quan đến tổ chức và lao động và đánh giá các nguyên nhân chính tại sao theo điều tra khảo sát thì nhu cầu người lao động có nhu cầu tham gia BHXH tự nguyện rất lớn nhưng số lượng người lao động tham gia BHXH tự nguyện còn thấp. Một số nguyên nhân như: thu nhập thấp, thời gian đóng kéo dài, trình độ học vấn, công tác tuyên truyền chưa đến gần với người dân, truyền thống và tập quán của Việt Nam là người già được con cháu chăm lo nuôi dưỡng nên ít quan tâm đến vấn đề BHXH cho bản thân.
Trên cơ sở đó hai tác giả cũng đề xuất một số giải pháp để tạo điều kiện thuận lợi cho khu vực phi chính thức tham gia BHXH tự nguyện. - Đề tài "Đề xuất các giải pháp phát triển đối tượng tham gia BHXH tự nguyện trên địa bàn TP Hà Nội” do Nguyễn Thị Phương Mai thực hiện năm 2016. Đề tài đã hệ thống hóa và xác lập cơ sơ sở lý luận về phát triển đối tượng tham gia BHXH tự nguyện, trên cơ sở đó khảo sát, đánh giá thực trạng thực hiện trên địa bàn Thủ đô, chỉ rõ hạn chế, khó khăn, vướng mức, vấn đề đặt ra và đề xuất các giải pháp phát triển trong thời gian tới.