CHƯƠNG Ill: MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM MỞ RỘNG VÀ TĂNG CƯỜNG KHAI THÁC LAO ĐỘNG KHU VỰC KINH TẾ TƯ NHÂN THAM GIA BHXH. ĐINH HƯỚNG HOÀN THIỆN MỘT SỐ ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN NHẰM MO RONG DODO! TƯỢNG LAO ĐỘNG KHU VỰC KINH TẾ TƯ NHÂN THAM GIA BHXH. Hành lang pháp lý. Vê chế độ chính sách.
Phương thức quản lý. GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUÁ KHAI THÁC LAO ĐỘNG KHU VỰC KINH TẾ TƯ NHÂN THAM GIÁ BHXH. Dự báo phát triển kinh tế, dân số và lao động. Xây dựng lộ trình mở rộng đối tượng tham gia BHXH khu vực kinh tế tư nhân giai đoạn 2005-2010.
Công tác tuyển truyền, vận động. Tăng cường, để cao vai trò, hiệu quả trong việc thực hiện phối kết hợp của các cơ quan quản lý Nhà nước. Nâng cao năng lực quản lý của hệ thống BHXH Việt Nam. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 1.
Kiến nghị với Nhà nước. Kiến nghị với cấp uỷ, chính quyền địa phương. KẾT LUẬN -8- CHƯƠNG |: NHỮNG NHẬN THỨC KHOA HỌC VỀ NGUỒN LỰC LAO ĐỘNG VÀ THU NHẬP CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG KHU VỰC KINH TẾ TƯ NHÂN TRONG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỀN. MỞ RỘNG ĐỐI TƯỢNG THAM GIA BHXH |.
NHẬN THỨC CHUNG VỀ LAO ĐỘNG VÀ THU NHẬP CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG. Lao động và thị trường lao động trong nên kinh kế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Một số khái niệm - Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Theo Nghị quyết Đại hội IX thì kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một kiểu tổ chức nền kinh tế trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội vận hành theo các quy luật kinh tế khách quan của nền kinh tế thị trường, các quy luật của thời kỳ quá độ, đồng thời có sự quản lý của Nhà nước, nhằm đạt được mục tiêu dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, đân chủ, văn minh.
~ Thị trường lao động. Thị trường lao động là thị trường trao đổi, sử dụng các dịchvụ về sức lao động của người lao động. Ở nước ta, hàng hoá sức lao động được trao đổi, sử dụng chủ yếu trong các khu vực kinh tế tư bản tư nhân; kinh tế tiểu chủ và cá thể. - Khu vực kinh tế tư nhân: Khu vực kinh tế tư nhân là khu vực kinh tế bao gồm các thành phần kinh tế sau: + Kinh tế cá thể - được hiểu là hình thức kinh tế của một hộ gia đình hay một cá nhân hoạt động dựa trên quan hệ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và lao động của chính hộ hay cá nhân đó, không thuê mướn lao động làm thuê.
+ Kinh tế tiểu thủ - là hình thức kinh tế do một chủ tổ chức, quản lý và điều hành, hoạt động trên cơ sở sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và có sử -9- dụng lao động thuê mướn ngoài lao động của chủ; quy mô vốn đầu tư nhỏ, sử dụng lao động có tính chất mùa vụ, khoán việc. + Kinh tế tư bản tư nhân - bao gồm doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần được thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp. Lực lượng lao động trong nên kinh tế thị trường. Theo kết quả điêu tra lao động việc làm năm 2002 của Bộ Lao động - Thương bình và Xã hội công bố tháng 10/2002, tính đến 1/7/2002, dân số nước ta 79,93 triệu người trong đó thành thị chiếm 24,87%, nông thôn chiếm 75,13%; số người trong độ tuổi lao động 48,5 trriệu người, trong đó khoảng 40,7 triệu người từ 15 tuổi trở lên hoạt động kinh tế thường xuyên, nhưng tỷ lệ qua đào tạo nghề nghiệp và chuyên môn kỹ thuật rất thấp.
Chỉ có 7,6% dân số có bằng cấp về trình độ chuyên môn kỹ thuật nào đó, tức là đã qua trường lớp đào tạo, trong đó 2,3% là công nhân kỹ thuật và nhân viên nghiệp vụ có bằng cấp; 2,8% có trình độ trung học chuyên nghiệp; 0,7% trình độ cao đẳng; 1,7% đại học; 0,1% có trình độ trên đại học. Mặt khác cơ cấu đào tạo bất hợp lý nên tình trạng "nhiều thầy, thiếu thợ” trong nền kinh tế có xu hướng ngày càng trầm trọng. Sinh viên ra trường không có việc làm, nhưng các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp đầu tư nước ngoài lại không tìm được công nhân kỹ thuật lành nghề. Với những đặc điểm này, nhất là thời kỳ nên kinh tế nước ta đang trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và nhân loại đang bước vào nền kinh tế trí thức mà bản thân người lao động không biết nghề hoặc biết nghề không đến nơi đến chốn thì rất khó tìm việc làm, ngày nay người ta quan tâm chủ yếu đến chất lượng lao động chứ không tập trung vào khai thác số lượng lao động như trước đây.
Do vậy, có thể nói sự phân công lao động xã hội phụ thuộc vào nhu cầu đòi hỏi của nền kinh tế, định hướng phát triển của lực lượng sản xuất, nhu cầu đòi hỏi từ các ngành nghề, các lĩnh vực và mục tiêu phát triển kinh tế đất nước. Và tuỳ theo từng giai đoạn cụ thể, nhu cầu về số lượng lao động trong từng lĩnh vực được phân bổ khác nhau cho phù hợp. Để thuận lợi cho việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến sự phân công lao động xã hội, theo đặc điểm, tính chất lao động ở nước ta hiện nay, có thể phân chia số lao động làm việc trong các lĩnh vực, các ngành nghề theo các nhóm: -10- nhóm lao động đảm nhận những công việc giản đơn và nhóm lao động đảm nhận những công việc phức tạp. - Đối với lao động đảm nhận những công việc giản đơn thì hầu hết số lao động này đều chưa qua đào tạo, công việc thực hiện mang tính giản đơn như lao động bằng chân tay, lao động bằng sức lực.
Về công việc và thu nhập thường không ổn định, mang tính thời vụ hoặc hợp đồng ngắn hạn đồng thời thu nhập của họ cũng rất thất thường được trả lương theo sản phẩm hoặc lương công nhật, ngoại trừ một số lao động được làm việc theo các hợp đồng đài hạn. Đây thực là một trong những khó khăn để thực hiện thu nộp và quản lý quá trình tham gia BHXH của nhóm đối tượng này. Tuy nhiên nguồn lực lao động ở nhóm này tương đối dồi dào, có khả năng đáp ứng kịp thời các nhu cầu đòi hỏi về lao động giản đơn trong nền kinh tế như việc huy động lao động nhàn rỗi. Chính vì vậy ngoài việc quan tâm tạo công ăn việc làm và thu nhập cho người lao động thì vấn đề đảm bảo quyền lợi BHXH cho những lao động làm việc trong nhóm này cũng là công việc rất cần thiết và quan trọng đối với hoạt động BHXH.
Như vậy, với tác động của kinh tế thị trường đã tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người lao động, hình thành và gia tăng số lượng lao động trong nhóm lao động giản đơn, đồng thời cũng nảy sinh những vấn đẻ liên quan đến việc đảm bảo chính sách xã hội và an sinh xã hội cho người lao động làm việc trong nhóm này. - Đối với lao động làm những công việc phức tạp thì hầu hết số lao động trong nhóm này có tay nghề và trình độ chuyên môn đáp ứng được những yêu cầu công việc. Mặc dù trong những năm vừa qua số lao động qua đào tạo đã tăng rất nhanh, đáp ứng được phần nào các nhu cầu của đời sống xã hội, nhưng so với các nước phát triển thì số lao động làm việc trong nhóm lao động phức tạp vẫn còn rất thấp (như phân tích ở trên), đặc biệt là trong các lĩnh vực như khoa học kỹ thuật, điện tử, tin học. Ngoài ra ở các lĩnh vực khác do sự chuyển đổi phương thức sản xuất cũng đòi hỏi trình độ tay nghề của người lao động phải được nâng cao cho phù hợp.
Như vậy có thể khẳng định rằng nhu cầu về lao động có trình độ, tay nghề trong các năm tới sẽ là rất lớn, điều này cũng ảnh hưởng rất nhiều đến việc dự báo về đối tượng tham gia BHXH trong các năm tới. Mặt khác, do đặc điểm về trình độ học vấn và trình -l1- độ chuyên môn của lao động làm việc trong nhóm này, đã tạo cho họ được bố trí ở những công việc đòi hỏi phải có trình độ chuyên môn, những công việc phức tạp, và phải qua đào tạo (các dây chuyển sản xuất hay bộ phận quản lý. Chính vì lẽ đó, người lao động làm việc trong nhóm này thường có sự ổn định trong công việc và trong thu nhập. Ngoài ra xét trên góc độ quản lý thì số lao động này cũng có những thuận lợi như: được ký kết hợp đồng lao động dài hạn, công việc tương đối ổn định.
Đây là một trong những thuận lợi khi thực hiện BHXH cho nhóm đối tượng này. Tác động của sự chuyển dịch cơ cấu lao động đến việc mở rộng đối tượng tham gia BHXH. Sự chuyển dịch cơ cấu lao động phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất và với sự chuyển dịch cơ cấu nên kinh tế, là hoàn toàn hợp lý. Đặc biệt là sự chuyển dịch cơ cấu lao động ở mỗi vùng, mỗi địa phương, mỗi khu vực kinh tế.
Ở nước ta hiện nay sự chuyển dịch cơ cấu lao động được thể hiện theo các hướng: - Sự chuyển dịch cơ cấu lao động làm việc từ lĩnh vực nông nghiệp sang lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ, đây là sự chuyển dịch quan trọng, đóng vai trò chủ đạo trong việc thực hiện công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước. Nếu như trước đây tỷ trọng lao động làm việc ở ngành nông nghiệp là chủ yếu thì đến nay số lao động này được chuyển địch dân sang các ngành công nghiệp và dịch vụ. Điều đó tạo điều kiện người lao động tham gia và hưởng các chế độ, chính sách BHXH ngày càng nhiều hơn. - Cùng với sự điều chỉnh cơ cấu lao động trong các lĩnh vực công nghiệp và nông nghiệp thì tỷ trọng về cơ cấu lao động trong các ngành nghề cũng được điều chỉnh như giữa các ngành sản xuất công nghiệp và dịch vụ.
Như vậy, với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, lực lượng lao động trong các thành phần kinh tế, các ngành nghề, các lĩnh vực đã được điều chỉnh cho phù hợp. Đây là yếu tố quan trọng liên quan đến việc quản lý quá trình tham gia BHXH theo từng loại hình. - Sự điều chỉnh lực lượng lao động theo nhu cầu, tính chất của công việc cũng được thể hiện trong từng lĩnh vực, từng ngành nghề.